Chi 2000 tỷ cho 22 bài báo trên tạp chí khoa học

Posted: April 28, 2016 in Uncategorized
Tags:

Sơn Ca (BĐV) – Trong 5 năm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) chỉ có tổng cộng 22 bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học.

� Xem thêm: Tranh cãi quanh 90 tỷ đồng cho 1 bài báo khoa học quốc tế + Việt Nam quá nhiều tiến sỹ, chất lượng đào tạo quá kém + Tin liên quan.


Viện hàn lâm khoa học xã hội ít công bố trên tạp chí khoa học ISI

Ngày 27/4, Dân Trí đưa tin, nhóm dự án S4VN (Trắc lượng Khoa học Việt Nam) vừa công bố bảng thống kê ISI (những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học được công nhận bởi Viện Thông tin Khoa học – Institute for Scientific Information – ISI) của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN (VASS) giai đoạn 2011-2015

Theo đó, tổng cộng số lượng bài báo công bố ISI của VASS trong 5 năm qua là 22 bài (tổng số lượt trích dẫn là 63).

Mới đây, nghiên cứu sinh tiến sĩ Lê Ngọc Sơn (ĐH Công nghệ Ilmenau, Đức) tiếp tục đưa ra những con số về ngân sách cho VASS trong tương quan với những kết quả nổi bật mà VASS đạt được.

Cụ thể, trên cơ sở số liệu ngân sách nhà nước được công bố bởi Bộ Tài chính, anh Sơn cho biết, trong 5 năm (từ 2011 đến 2015), ngân sách nhà nước đã “rót” hơn 2.000 tỷ đồng tương đương 90,6 triệu USD cho VASS. Riêng năm 2015, Viện có 5 bài báo công bố quốc tế ISI và tổng chi phí tiêu tốn lên đến 504,5 tỷ đồng (khoảng 22,67 triệu USD).

Trong khi, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có hơn 700 cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội.


Kết quả công bố ISI của Viện hàn lâm khoa học xã hội

Trước đó, ngày 24/4, trao đổi với báo chí, bà Nguyễn Thị Kim Phụng – Quyền vụ trưởng Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết: “Hiện nay, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ KH&CN đã thống kê ở Việt Nam đang có hơn 24.000 tiến sĩ.

Năm 2015, có khoảng 15.000 tiến sĩ (bao gồm cả các giáo sư, phó giáo sư) công tác tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng”.

Nhưng điều đáng nói, theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/6 của Malaysia, và 1/10 của Singapore.

Và mức chi phí thực tế để có tấm bằng tiến sỹ ở Việt Nam tùy theo ngành, ngành hot như kinh tế hơn 1 tỷ đồng, kém hot thì vài trăm triệu.

Tranh cãi quanh 90 tỷ đồng
cho 1 bài báo khoa học quốc tế

Bích Diệp (Dân Trí) – Với 2.000 người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) trong 5 năm qua có tổng cộng 22 bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học được công nhận bởi Viện Thông tin Khoa học ISI. Trong khi đó, kinh phí nhà nước “rót” xuống là trên 2.000 tỷ đồng (tương đương 90,6 triệu USD).


Việt Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam có quy mô rất lớn

2.000 tỷ đồng và 22 bài báo ISI

Nhóm dự án S4VN (Trắc lượng Khoa học Việt Nam) vừa công bố bảng thống kê ISI (những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học được công nhận bởi Viện Thông tin Khoa học – Institute for Scientific Information – ISI) của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN (VASS) giai đoạn 2011-2015

Theo đó, tổng cộng số lượng bài báo công bố ISI của VASS trong 5 năm qua là 22 bài (tổng số lượt trích dẫn là 63). Năm có kết quả cao nhất là 2013 với 7 bài (20 trích dẫn) và năm thấp nhất là 2011 với 2 bài (1 trích dẫn).

Mới đây, nghiên cứu sinh tiến sĩ Lê Ngọc Sơn (ĐH Công nghệ Ilmenau, Đức) tiếp tục đưa ra những con số về ngân sách cho VASS trong tương quan với những kết quả nổi bật mà VASS đạt được.

Cụ thể, trên cơ sở số liệu ngân sách nhà nước được công bố bởi Bộ Tài chính, anh Sơn cho biết, trong 5 năm (từ 2011 đến 2015), ngân sách nhà nước đã “rót” hơn 2.000 tỷ đồng tương đương 90,6 triệu USD cho VASS. Riêng năm 2015, Viện có 5 bài báo công bố quốc tế ISI và tổng chi phí tiêu tốn lên đến 504,5 tỷ đồng (khoảng 22,67 triệu USD).

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là nơi tập trung các nhà khoa học xã hội đầu ngành, với trên 2.000 người, trong đó hơn 700 cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, làm việc trong 5 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện, 32 đơn vị nghiên cứu khoa học, 5 đơn vị sự nghiệp khác (trong đó có 1 cơ sở đào tạo sau đại học và 2 nhà xuất bản).

Cùng với đó là nhiều viện nghiên cứu thành viên có trụ sở chính tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ đặt tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ sở đào tạo sau đại học về các ngành khoa học xã hội với 58 chuyên ngành đào tạo, trong đó có 44 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ và 14 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ. Ngoài ra, tại VASS còn có 32 tạp chí khoa học được xuất bản bởi các viện nghiên cứu thành viên.

“Những con số biết nói”

Xung quanh những số liệu nói trên đã có những tranh luận đáng chú ý. Theo anh Lê Ngọc Sơn thì đây là “những con số biết nói” khi chưa cần quan tâm đến chất lượng mà chỉ xét trên góc độ hiệu quả kinh tế và năng suất lao động. Anh Sơn cho rằng, đặt trong bối cảnh VASS có tới 2.000 người thì năng suất này không bằng một nhóm nhỏ các nhà khoa học châu Âu làm việc.

Một tài khoản Facebook là Tam Nguyên cho rằng, nếu chỉ xét riêng khía cạnh công bố bài báo ISI thì chỉ cần 1 triệu USD, nhiều phòng nghiên cứu của các trường đại học đều có thể làm được, thậm chí là làm được nhiều hơn. Tài khoản này dẫn chứng, quỹ khoa học công nghệ Nafosted chi khoảng 700-800 triệu đồng cho đầu ra là 2 bài báo ISI, như vậy với 1 triệu USD thì có thể làm được hàng chục bài báo ISI.

“Người tài ở Việt Nam không thiếu, vấn đề là họ có được đối xử công bằng và được cạnh tranh một cách lành mạnh hay không”, tài khoản này nhận xét.

Trong khi đó, một ý kiến khác thì cho rằng, nói gì thì nói, VASS vẫn có nhiều công bố ISI hơn không ít các học viện, viện nghiên cứu khác ở Việt Nam.

Trao đổi với PV Dân Trí, anh Ng.V. Dũng, một người từng làm Tiến sĩ tại Đại học Missouri (Columbia, Missouri, Mỹ) nhẩm tính, với 90 tỷ đồng cho 1 đề tài, đây là một con số lớn. Tuy nhiên, anh cũng lưu ý rằng, chi phí của các nghiên cứu khoa học còn tùy thuộc vào tính chất đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu, quy mô, phạm vi đề tài, sự phức tạp của đề tài.

“Có những đề tài mang tính kinh tế, xã hội rộng lớn sẽ tiêu tốn rất nhiều sức lực, tiền của và cả chi phí cơ hội, do đó, rất khó để nói cần bao nhiêu tiền cho một đề tài khoa học, và rằng 90 tỷ đồng/đề tài liệu có xứng đáng không. Chúng ta không phải là cơ quan đánh giá chuyên môn để kết luận, đánh giá được sự cần thiết, chất lượng của đề tài đó” – anh Dũng cho biết.

Ngoài ra theo anh, bên cạnh tiền chi trả cho hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện thì ngân sách còn được sử dụng cho chi trả các khoản chi thường xuyên (lương nhân viên, tiền máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng, chi phí tiếp khách…). Riêng trong hoạt động nghiên cứu cũng không thể nói là đầu ra chỉ có 4-5 bài báo ISI hàng năm mà bên cạnh đó còn có những nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp nhà Nhà nước; tham gia vào việc xây dựng những dự thảo mang tính chất kinh tế – xã hội, chính trị, tầm ảnh hưởng lớn.

Nói về công việc nghiên cứu khoa học, anh Phạm K, một người từng làm việc tại Đại học Tokyo (Nhật Bản) cho biết, anh nghiên cứu trong ngành ứng dụng công nghệ bán dẫn vào nghiên cứu cảm biến với kích thước cỡ micrometre, đây là một ngành học có tính đặc thù lớn.

“Nhiều máy móc rất đắt đỏ mà nhiều tập đoàn lớn cũng chưa hẳn đã mua được cho bộ phận nghiên cứu của công ty mình, có những máy giá tới hàng chục triệu USD. Chi phí thí nghiệm cho mỗi người tham gia nghiên cứu khoảng 200-300 USD/ngày, có những lúc tới 1.000 USD/ngày và do nhà trường chi trả” – anh K chia sẻ.

Anh K lưu ý thêm rằng, làm nghiên cứu khoa học khác với bộ phận phát triển của công ty, không chỉ nghiên cứu ra những công trình khoa học mang tính áp dụng thực tiễn mà bao gồm cả những công trình mang tính hàn lâm, các công trình khoa học cơ bản.

Do đó, chưa đề cập đến lương cho người làm nghiên cứu, những người làm khoa học trong các lĩnh vực như anh Khang ở nước ngoài dù muốn về nước làm việc cũng rất khó chủ yếu là do Việt Nam thiếu thốn thiết bị và tài nguyên. “Tài nguyên không chỉ là tiền mà còn là các mẫu vật liệu cần thiết cho nghiên cứu. Bên cạnh đó, còn có yếu tố con người như cần có đồng nghiệp, người hướng dẫn, những người có kinh nghiệm để học hỏi, trao đổi…” – anh K cho hay.

Tuy vậy, theo anh Ng.V. Dũng, rõ ràng người làm khoa học phải dồn công việc chính vào công tác khoa học nhưng cũng có những trường hợp các cơ quan nghiên cứu vẫn lạm dụng công quỹ để “chia chác” lẫn nhau, tiêu tiền vô tội vạ, đây là vấn đề cần kiểm soát kỹ.

Anh Dũng (ngây thơ) chia sẻ: “Thời còn ở Mỹ, trong trường có vị giáo sư nào, chỉ cần biết tên thì sinh viên trong trường đều có thể truy cập thông tin biết thu nhập của ông ta trong năm bao nhiêu, lương thế nào. Chỉ cần là những khoản sử dụng ngân quỹ công thì đều tra cứu được nguồn tiền đó đã được sử dụng như thế nào, chi trả cho những vấn đề gì, tất cả đều công khai. Đây là điều Việt Nam nên học hỏi”.

Việt Nam quá nhiều tiến sỹ, chất lượng đào tạo quá kém

Châu An (BĐV) – Số lượng tiến sĩ đó rất khập khiễng với kết quả nghiên cứu, điều đó phản ánh điều gì, phản ánh chất lượng đào tạo của chúng ta kém.


Nên có quy chế rõ ràng về đào tạo NCS

“Tôi thấy rất buồn”

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thống kê ở Việt Nam đang có hơn 24.000 tiến sĩ.

Thế nhưng, theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan, một phần sáu của Malaysia, và một phần mười của Singapore.

Trước thực trạng, chúng ta có nhiều tiến sĩ mà lại ít công trình công bố, trao đổi với Đất Việt, ngày 26/4, một Tiến sĩ tại Viện toán học, Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam cho biết: “Với số lượng sinh viên, quy mô đào tạo, cán bộ giảng dạy tại các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay, thì số lượng tiến sĩ như vậy không phải nhiều.

Ở các nước đang phát triển, nếu là người đứng ra giảng dạy ở cấp đại học, ít nhất phải có bằng tiến sĩ. Cứ nhìn vào số lượng tiến sĩ của Việt Nam, số lượng trường đại học, số lượng sinh viên, sẽ thấy lượng tiến sĩ chưa nhiều. Chưa kể lượng tiến sĩ làm ở những cơ quan quản lý khoa học, những cơ quan quản lý công quyền.

Nhưng bây giờ số lượng tiến sĩ đó rất khập khiễng với kết quả nghiên cứu, điều đó phản ánh điều gì? Nó phản ánh chất lượng đào tạo của chúng ta kém!

Chủ yếu giảng viên hiện nay chưa đạt chuẩn, không có bằng, không có làm nghiên cứu thực sự. Tôi thấy rất buồn, khi thấy Viện hàn lâm khoa học xã hội năm 2015 chỉ có 1 bài công bố trong tạp chí có chất lượng (một trong những tạp chí lọt danh mục của cơ sở dữ liệu ISI), điều này là không chấp nhận được, không thể bao biện với bất kỳ lý do gì”.

Bên cạnh đó, theo tiến sĩ này, thì vấn đề ở đây là chất lượng đào tạo từ Tiến sĩ, Thạc sĩ, cử nhân. Chắc chỉ Việt Nam mới có chuyện đi học Tiến sĩ thay vì làm Tiến sĩ, trong khi, Tiến sĩ ở nước khác họ chỉ làm đào tạo cho các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu chứ không làm cho bộ phận quản lý, vì mất mấy năm đi học không để làm gì.

Đơn giản bởi vì, bằng Tiến sĩ không phải để chứng tỏ anh đạt được một trình độ kiến thức nào đó, mà nó chứng tỏ anh có khả năng độc lập nghiên cứu khoa học. Điều đáng quan tâm với tiến sĩ Việt Nam, số lượng nghiên cứu nhiều, nhưng số lượng công bố quá ít, mà trong khi tiến sĩ thì phải độc lập nghiên cứu.

Thậm chí, cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học, chỉ nói trường học công lập, mới là cử nhân đã có thể đi giảng dạy được, trong đó bằng thạc sỹ nhiều nước gắn với nghiên cứu.

Chính vì thế, chất lượng tiến sĩ của Việt Nam không đáp ứng, không thể chạy theo con số, bởi phải đi theo chất lượng, con số nhiều mà không đảm bảo được yêu cầu am hiểu khoa học thực sự, thì khó chấp nhận.

Ở đây, nó cũng như con lai F1, F2, thế hệ F1 chất lượng kém thì sẽ lại đào tạo ra những thế hệ tiếp theo kém, tự nhiên trở thành vòng luẩn quẩn.

Việt Nam chưa đủ dũng cảm để đặt ra chuẩn mực quốc tế

Về phía bên khoa học tự nhiên, theo vị tiến sĩ trên, cơ bản con số công bố không phải kém, nếu so về trình độ kinh tế, thu nhập, hỗ trợ khoa học để công bố khoa học, thì con số đã đạt được cũng là một con số đáng nể, chấp nhận được. Cụ thể là với một đất nước nghèo, hỗ trợ khoa học kém hơn so với thế giới rất nhiều.

“Tôi không đồng tình với Viện hàn lâm khoa học xã hội khi cho rằng số lượng công bố của Viện ít đào tạo nhiều, là do toàn công bố nội tại, không thể công khai, đó chỉ là ngụy biện, khoa học đúng thì phải là không biên giới.

Theo tôi, việc không có công bố chắc chắn chỉ vì một thời gian dài không có áp lực nào yêu cầu phải công bố quốc tế.

Thậm chí, hiện nay có nhiều tạp chí bỏ tiền ra mua bài viết công bố công trình nghiên cứu khoa học, cứ trả tiền là công bố không quan tâm nội dung.

Chính vì thế, mới sinh ra thế hệ tiến sĩ không biết tiếng Anh, không biết viết 1 bài báo khoa học để bên ngoài có thể chấp nhận được, làm khoa học xã hội nhân văn mà được công bố cũng không phải khó lắm.

Trong khi, ngành khoa học tự nhiên cơ bản, phải làm ra hẳn một cái mới, thì mới được công bố, thậm chí phải có ý nghĩa người ta mới cho công bố. Còn giới khoa học xã hội thì không nhất thiết phải làm ra cái mới, chỉ cần bàn về những vấn đề đặc trưng cho vùng miền cũng có thể công bố được”, vị tiến sĩ này phân tích.

Đưa ra đề xuất để tăng thêm số lượng công bố quốc tế trên tạp chí khoa học, theo vị tiến sĩ trên, bản thân Bộ GD&DT phải tạo ra áp lực bằng các quy chế, có thể đầu tiên không một sớm một chiều có bài công bố, vạch ra lộ trình bắt buộc phải công bố quốc tế. Phải có lộ trình rõ ràng.

Nếu không sau này sẽ có một ngành khoa học gọi là ngành khoa học Việt Nam, chỉ có chúng ta biết với nhau, quốc tế không ai công nhận.

Cũng giống như việc không tìm được nguyên nhân cá chết hàng loạt, phải nhờ sự vào cuộc của các chuyên gia nước ngoài, theo vị tiến sĩ trên, nếu muốn tìm thì rất dễ. Cá chết đầu tiên ở đâu, thì nguồn gốc sẽ bắt đầu từ đó, chúng ta thấy cá chết từ Hà Tĩnh ra đến Thừa Thiên Huế, như vậy phải tìm mẫu nước vùng Hà Tĩnh.

Sau đó cho phân tích chắc chắn sẽ thấy ngay các độc tố trong nước, ở đây, lỗi chính là hệ thống quản lý đào tạo, không đủ dũng cảm để đặt ra chuẩn mực quốc tế, trong khi, các nước kém phát triển cũng đã làm được.

Trước chia sẻ của một số NCS, mức chi phí thực tế để có tấm bằng tiến sỹ ở Việt Nam tùy theo ngành, ngành hot như kinh tế hơn 1 tỷ đồng, kém hot thì vài trăm triệu, vị tiến sĩ trên bàng hoàng: “Tiền đào tạo tiến sĩ, với giảng viên như chúng tôi được 3 -6 triệu đồng/năm.

Nguyên tắc, không bao giờ lấy tiền của học sinh, bản thân ngành của chúng tôi thu hút người nghiên cứu đã khó, nói gì bỏ tiền ra để nghiên cứu?

Hệ thống đào tạo khoa học của chúng ta đang hư nát, không hỗ trợ đủ, không nghiêm, không đặt ra một cái chuẩn đào tạo ra một tiến sỹ thì phải có bài báo quốc tế, có nhận bao nhiêu tiền thì cũng không thể công bố giúp được, trừ khi dùng tiền mua bài.

Mức giá 1 tỷ đồng chỉ là cho nghiên cứu sinh mua bằng tiến sĩ mới có giá như vậy”.

Nói chung để thay đổi không phải khó, lấy chuẩn quốc tế áp vào tự khác sẽ đúng, lấy chất lượng làm đầu, chất lượng đó kiểm nghiệm qua hệ thống giáo dục các nước.

Vị tiến sĩ trên chia sẻ thêm: “Xã hội hiện nay có thể mua bằng cấp một cách đơn giản, nên họ vẫn đâm đầu vào mua. Tôi nghĩ nhiều người đi làm ngoài, nước Mỹ có nhiều tiến sĩ đi làm ngoài, đối với nhà khoa học họ sẽ lấy chuyện công bố làm chuẩn, mới được hỗ trợ.

Mọi việc chỉ cần lấy chuẩn mực về thành tích nghiên cứu khoa học áp vào làm chất lượng từ đào tạo cho đến hỗ trợ khoa học, mọi việc sẽ vào quỹ đạo ngay.

Nếu lấy chất lượng làm đầu thì mọi việc đã khác. Còn Việt Nam tiếp tục đi theo con đường khác, thì cuối cùng sẽ không có nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, ai muốn nghiên cứu thì ra nước ngoài”.

► Xem thêm những bài liên quan:

[:-/] Quan chức đua nhau đi học tiến sĩ Trao đổi với PV Tiền Phong về tình trạng “lạm phát” đào tạo tiến sĩ ở nước ta hiện nay, các chuyên gia cho rằng có nguyên nhân từ việc một bộ phận không nhỏ quan chức đua nhau đi học tiến sĩ, do đó có cầu thì ắt có cung.

[:-/] Học tiến sĩ là… dễ nhất? Một chuyên gia (xin giấu tên) công tác lâu năm trong lĩnh vực đào tạo tại một trường ĐH ở Hà Nội cho rằng, quy trình, quy chế của Bộ GD&ĐT về đào tạo tiến sĩ xem qua có vẻ chặt chẽ và hợp lý. Nhưng nếu chiếu từ phổ thông lên đến ĐH thì học tiến sĩ là… dễ nhất.

[:-/] Không thể ‘bình dân hóa’ luận án tiến sĩ: Khi quyền uy lấn át học thuật Do thiếu môi trường học thuật lành mạnh nên nhiều luận án tiến sĩ kém chất lượng vẫn bảo vệ thành công, đặc biệt ở các ngành khoa học xã hội và nhân văn – lĩnh vực mà khả năng hội nhập quốc tế còn rất kém.


“Thành công hay không phụ thuộc hoàn toàn vào quan hệ…”

Theo một giảng viên Khoa Lịch sử Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, chất lượng đào tạo tiến sĩ ngành khoa học xã hội và nhân văn (KHXH-NV) hiện nay chịu tác động ghê gớm từ môi trường học thuật “chật hẹp”. “So sánh với quy trình bảo vệ luận án tiến sĩ của ta với một số nước trong khu vực thì thấy ở ta quy định như thế là khá chặt chẽ. Nhưng chặt lại thành hở vì việc bảo vệ thành công hay không phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ giữa thầy và trò nên quy trình chỉ là hình thức. Nền KHXH của ta còn mỏng, tinh thần học thuật chưa cao, trong giới lại quen biết nhau hết nên rất dễ đụng chạm. Ngay cả người phản biện kín nhiều khi cũng không dám mạnh tay vì biết đâu lại động phải trò của thầy hoặc bạn mình”, giảng viên này cho biết. (…)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s