Việt Nam: thiên đường ô nhiễm

Posted: May 5, 2016 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Hoàng Phố (Ba Sàm)“Môi trường nhiễm độc đưa đến vô vàn các vấn đề về sức khoẻ, và khi một người cha, một bà mẹ mắc bệnh thì khó lòng tin rằng con cái của họ sẽ được học đến nơi đến chốn. Một thế hệ thất học. Một thế hệ không tương lai. Thế hệ này tiếp thế hệ khác, không tương lai. Một thế hệ không tương lai kéo theo một xã hội chất chứa tệ nạn, suy đồi, một miếng ngon cho các tổ chức tội phạm. Không, xin đừng mơ ước về một tương lai sánh vai với cường quốc năm châu“.

� Xem thêm: Việt Nam nguy cơ thành ‘thiên đường’ dự án ô nhiễm + Phiếu kiểm nghiệm “cá sạch” ở Đà Nẵng có những nội dung gì?

Trong bài viết: Việt nam đang đối diện với khủng bố chất độc hay đang là một bãi rác công nghiệp?, tôi có đặt câu hỏi về chức năng giám sát môi trường của chính quyền Việt nam đối với Formosa Hà Tĩnh. Hôm nay tôi đã có câu trả lời, từ báo Người đô thị:

Trao đổi với Người Đô Thị, TS Ngô Đức Lâm, nguyên cục trưởng Cục Công nghệ an toàn và môi trường, bộ Công thương rằng: Nhà nước phải có hệ thống độc lập kiểm tra, tuy nhiên lại không có với trường hợp Formosa. Thực tế hiện nay, sở Tài nguyên môi trường Hà Tĩnh không tự đi lấy mẫu và tự kiểm tra Formosa, mà mẫu đó lại do Formosa đưa cho sở đi phân tích. Như vậy là hoàn toàn không khách quan, và thiếu trách nhiệm. Thứ 2, sở Tài nguyên môi trường là cơ quan nhà nước thì phải độc lập, nhưng sở lại đi hợp đồng với Formosa để kiểm tra, tức là mang lại kinh tế cho nhau, như vậy là không đúng quy định Nhà nước, là vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Một câu trả lời đắng ngắt.

Cũng trong bài viết trên, tôi nói rằng nếu nhà cầm quyền VN cho phép Formosa Hà tĩnh nằm ngoài luật pháp Việt Nam thì điều đó đồng nghĩa với việc đặt cược số phận của thế hệ tương lai của Việt Nam vào trong tay một tập đoàn đã từng gây ra khủng bố chất độc tại quốc gia láng giềng.

Phẫn uất và đau đớn.

Tôi cứ hy vọng giả thiết của mình sai, rằng nhà cầm quyền VN không tạo ra một thiên đường ô nhiễm (pollution haven) cho tập đoàn khủng bố chất độc Formosa. Trong thiên đường ô nhiễm này, tập đoàn khủng bố chất độc Formosa tuỳ tiện làm bất cứ điều gì mà luật pháp về môi trường ở ‘chính quốc’ không cho phép. Một phần cơ thể của Việt Nam đã bị cắt đứt đành đoạn. Một phần của Việt Nam đã trở thành một nhượng địa, cho thuê với cái giá rẻ mạt: Formosa thuê của VN 3.300 ha đất, trong thời hạn 70 năm với giá 96 tỷ đồng cho cả thời gian thuê, tính trung bình 42 đồng/m2/năm.  Khốc hại hơn, cái phần máu thịt bị cắt này còn gây ra băng hoại cho phần còn lại của Việt Nam. So với nước Việt Nam thời thuộc địa Pháp, thì nhượng địa này, nói đúng hơn là ‘thuộc địa’ này, là một địa ngục, và phần Việt Nam còn lại là bên bờ của địa ngục.

Vũng Áng-Formosa Hà tĩnh sẽ đi vào sách vở kinh tế học như là một bằng chứng khẳng định giả thiết về thiên đường ô nhiễm (pollution haven hypothesis).  Trong kinh tế học hiện đại giả thiết này dùng để chỉ khả năng các tập đoàn ở các nước giàu dùng vốn đầu tư trực tiếp để di chuyển các ngành công nghiệp ‘bẩn’ từ ‘chính quốc’ sang các nước ‘thuộc địa’,  nơi luật pháp về môi trường lỏng lẻo, thậm chí không tồn tại, và cho dù có luật thì với bộ máy công quyền tham nhũng các công ty này vẫn dễ dàng bỏ qua. Bi đát là phần thắng thuộc về các tập đoàn, còn phần thua thuộc về người dân ‘thuộc địa’.  Thua vĩnh viễn.

Có ba chỉ số cho thấy có thiên đường ô nhiễm hay không: (1) sự dịch chuyển công nghiệp bẩn sang ‘thuộc địa’, (2) khủng bố chất độc một cách hợp pháp, theo luật của ‘thuộc địa’, và cuối cùng là (3) sự tận thu đến cạn kiệt tài nguyên của thuộc địa. Và ba chỉ số này liên quan đến lý do phần thua thuộc về dân ‘thuộc địa’. Thua vĩnh viễn.

Thứ nhất, luật pháp lỏng lẻo về môi trường, và bộ máy công quyền tham nhũng của chính quyền ‘thuộc địa’ đã giúp tăng lợi nhuận cho các nhà máy gây hại môi trường vì không phải chi phí cho việc giải quyết hậu quả. Người chịu hậu quả, người dân thuộc địa phải gánh chịu: Môi trường nhiễm độc đưa đến vô vàn các vấn đề về sức khoẻ, và khi một người cha, một bà mẹ mắc bệnh thì khó lòng tin rằng con cái của họ sẽ được học đến nơi đến chốn. Một thế hệ thất học. Một thế hệ không tương lai. Thế hệ này tiếp thế hệ khác, không tương lai. Một thế hệ không tương lai kéo theo một xã hội chất chứa tệ nạn, suy đồi, một miếng ngon cho các tổ chức tội phạm. Không, xin đừng mơ ước về một tương lai sánh vai với cường quốc năm châu.

Lý do thứ hai, đó cũng là đối tượng quan tâm của công ước Basel về môi trường: các tập đoàn chuyên chở chất độc từ ‘chính quốc’ sang chôn lấp ở ‘thuộc địa’. Không thể thuyết phục một người có lý trí rằng trong số những hóa chất được thải từ ống ngầm Formosa Hà tĩnh không có những chất thải độc được vận chuyển từ ‘chính quốc’ sang. Dân ‘thuộc địa’ thua đã rõ ràng: khủng hoảng cá biển chết hàng loạt cả tháng qua đủ để biến hàng trăm ngàn gia đình ngư dân khốn đốn. Nhưng không phải chỉ ngư dân. Cả toàn xã hội đang khốn đốn, dĩ nhiên trừ những quan chức có ‘điều kiện’. Cuộc khủng hoảng này sẽ không dừng ở đây, chừng nào còn Formosa Hà tĩnh thì án tử cho cộng đồng vẫn còn treo trên đầu.

Khác với cuộc khủng hoảng do vụ khủng bố chất độc gây ra ở thành phố Sihanouk, cuộc khủng hoảng này không có tên gọi, bởi vì cái ác đã được kẻ thủ ác thực hiện một cách hợp pháp, hay nói đúng hơn là hợp pháp theo luật của ‘thuộc địa’, bởi vì cái chết đến thầm lặng, ai biết khi nào người nào sẽ đột ngột chết, một khi chất độc đi vào cơ thể qua con cá, củ khoai, hơi thở, và bởi vì kẻ bị giết không thể kêu đòi công lý trong bộ khung luật pháp ‘thuộc địa’. Dân ‘thuộc địa’ đang bị đẩy xuống địa ngục, không có chuông gọi hồn, không có tên tuổi, không có kẻ thủ ác bị nguyền rủa, kết tội.

Lý do thứ ba là dân thuộc địa sẽ bị vắt kiệt sạch nguồn tài nguyên không thể tái sinh (non-renewable natural resources), đất đá, nước, khoáng sản… Lòng tham vô độ của các tập đoàn chính quốc, được sự hỗ trợ của luật pháp  ‘thuộc địa’, và quan chức ‘thuộc địa’ sẽ ngấu nghiến tất cả những gì chúng có thể để biến thành lợi nhuận. Cái còn lại của người dân thuộc địa là một vùng đất bỏ đi, wasteland, vì họ chẳng qua cũng chỉ là những sinh linh bỏ đi, wastebeings.

Trong thuật ngữ luật pháp có từ kẻ tòng phạm. Xin cho tôi biết kẻ tòng phạm là ai.

Tham khảo: Levinson, Arik; M. Scott Taylor (2008). “Unmasking the Pollution Haven Effect”. International Economic Review 49 (1): 223–54.

Việt Nam nguy cơ thành ‘thiên đường’ dự án ô nhiễm

Hà Duy (VNN) 26/04/2016 – “Việt Nam có lẽ như đang rất thành công để trở thành “thiên đường” của những dự án ô nhiễm”, ông Đỗ Thiên Anh tuấn, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright chia sẻ.

Nhiều ngành ô nhiễm đổ vào Việt Nam

Nhắc đến những đại dự án thép như Formosa ở Hà Tĩnh, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright cho rằng, chắc chắn không dễ đầu tư sang các nước có những tiêu chuẩn cao về môi trường.

Chẳng hạn như Úc, dù có nguồn quặng sắt lớn nhất thế giới nhưng nước này không khuyến khích và chào đón những dự án thâm dụng tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. Nếu phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường và chuẩn xả thải đi cùng với nhiều loại thuế và phí môi trường “cao ngất”, các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm sẽ không thể hiệu quả và buộc đóng cửa hoặc di dời ra nước khác.

“Với những tiêu chuẩn môi trường lỏng lẻo, Việt Nam có lẽ như đang rất thành công để trở thành “thiên đường” của những dự án ô nhiễm”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn nhận định.

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đang tiến hành một nghiên cứu về giảm thiểu tác động môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu sơ bộ cho biết, ngày càng có nhiều dấu hiệu FDI trong các lĩnh vực gây nhiều ô nhiễm đầu tư vào Việt Nam như dệt, da giày, hóa chất…

Kết quả thu hút thời gian qua cho thấy, 67% DN FDI đang hoạt động ở VN là thuộc ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp; công nghệ thấp; tiêu thụ nhiều năng lượng và khả năng phát thải cao…

Đặc biệt, từ năm 2010 trở lại đây, các dự án “khủng” có vốn của Trung Quốc (tính cả Đài Loan, Hồng Kông) dồn dập vào Việt Nam, từ loạt dự án ngấp nghé “tỷ đô” trong lĩnh vực sợi, nhuộm, dệt may ở Quảng Ninh, cho đến sắt thép gần 10 tỷ USD ở Hà Tĩnh, sản xuất giấy bao bì ở Bình Dương vốn 1 tỷ USD…

Đáng chú ý từ năm 2014 đến nay, để đón đầu cơ hội từ Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, các dự án FDI nói chung và của Trung Quốc nói riêng ào ạt đổ vào sợi, nhuộm, dệt may, hình thành những khu công nghiệp dệt may quy mô “khổng lồ”.

Trước làn sóng này, cuối năm 2015 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phải lên tiếng cảnh báo. Trong văn bản gửi đến các địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng các khâu sản xuất nhuộm, dệt nhuộm ở những khu công nghiệp này có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao. Cơ quan này đề nghị các địa phương cần cân nhắc kỹ khi thành lập các khu công nghiệp dệt may.

Môi trường là không thể đánh đổi

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ có 5% DN FDI có công nghệ cao, 80% có công nghệ trung bình, còn lại 14% là sử dụng công nghệ thấp.

TS Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban Chính sách dịch vụ công, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng nếu DN sử dụng công nghệ tốt thì khả năng gây ô nhiễm môi trường ít hơn, hệ thống xử lý chất thải, nước thải, khí thải cũng sẽ tốt hơn. Và ngược lại, dự án sử dụng công nghệ thấp thì khả năng tiêu dùng năng lượng lớn hơn, rủi ro ô nhiễm môi trường tất nhiên sẽ cao hơn.

“Hầu hết DN ở các nước phát triển hơn đầu tư vào nước kém phát triển hơn thường sử dụng công nghệ thấp hơn ở nước họ. Đó là một thực tế khách quan. Nhưng nếu công tác quản lý tốt thì khả năng kiểm soát công nghệ họ sử dụng, hạn chế tác động xấu tới môi trường cũng tốt hơn”, TS Nguyễn Mạnh Hải chia sẻ.

Song, ông Nguyễn Khắc Kinh, Chủ tịch Hội Đánh giá tác động môi trường Việt Nam cho rằng hiện Bộ Khoa học và Công nghệ vẫn chưa có văn bản nào quy định rõ ràng công nghệ nào là lạc hậu không được đầu tư vào VN, công nghệ nào là không lạc hậu. Bộ KH&CN mới chỉ có quy định về máy móc, trang thiết bị cũ nhập vào Việt Nam mà thôi.

“Câu hỏi của tôi là “nghèo” thì có nhất thiết là phải “ăn bẩn” giống như câu chuyện vệ sinh an toàn thực phẩm không?” – Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn trăn trở khi nhắc đến những đại dự án có nguy cơ hủy hoại môi trường sống.

TS Nguyễn Mạnh Hải, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương khẳng định: “Không nên đánh đổi môi trường lấy những lợi ích trong ngắn hạn! Bởi vì môi trường là điều rất quý giá”.

Theo TS Nguyễn Mạnh Hải, những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường thường rất khó khắc phục, có những hậu quả gần như không khắc phục được, hoặc phải mất nhiều chi phí và trong một thời gian rất dài.

“Trong các dự án đầu tư, chúng ta thường không đánh giá hết được cái giá phải trả cho môi trường nếu xảy ra ô nhiễm. Đến khi xảy ra rồi mới thấy hậu quả có thể lớn đến chừng nào”, TS Nguyễn Mạnh Hải lưu ý.

Những dự án FDI lớn chỉ có thể tốt nếu như vấn đề môi trường được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, TS Nguyễn Mạnh Hải cho rằng, những dự án lớn có khả năng gây ô nhiễm phải rất cẩn trọng vì trong giai đoạn đầu thường chưa biểu hiện nhiều. Càng về sau khi quy mô sản xuất tăng lên, khả năng gây ô nhiễm ở những dự án ấy càng nhiều hơn.

Điều này đòi hỏi khả năng kiểm soát, khả năng khắc phục những sự cố liên quan đến môi trường ngay từ khi mới phát sinh là rất quan trọng. Quan trọng hơn cơ quan quản lý cần kiểm soát chặt từ khâu phê duyệt, chấp nhận dự án với những đánh giá tác động môi trường một cách nghiêm túc, tuân thủ thực sự đầy đủ các qui định về pháp luật môi trường. Đôi khi những dự án nhỏ hơn, lợi ích kinh tế dường như ít hơn nhưng bảo vệ môi trường tốt hơn thì về dài hạn lại là những dự án có lợi ích kinh tế cao hơn những dự án lớn mà nguy cơ ô nhiễm cận kề.

“Tôi nghĩ không nên đánh đổi vấn đề môi trường lấy bất cứ điều gì trong ngắn hạn để đảm bảo phát triển bền vững”, TS Nguyễn Mạnh Hải khẳng định.

[:-/] Lãnh đạo ăn cá, tắm biển không phải là câu trả lời (TTTG) – Lãnh đạo xuống tắm biển hay ăn cá, đó không phải là câu trả lời. Câu trả lời phải là bằng chứng khoa học mà nhiều bộ, ban, ngành đã đi tìm suốt cả tháng qua, nay vẫn còn nợ người dân.

Kết quả phân tích nước biển để truy nguyên nhân cá chết phải được công bố càng sớm càng tốt, càng chậm trễ càng khiến người dân lo âu.

Nguy hiểm hơn nữa là trong lúc hoạt động đánh bắt và tiêu thụ hải sản đã hồi phục mà nguyên nhân cá chết chưa tìm thấy, lỡ như kết quả sau này cho biết biển bị nhiễm độc kim loại nặng chẳng hạn thì ai chịu trách nhiệm đối với những người đã ăn cá trong khoảng thời gian “chờ nghiên cứu” này?

Kết quả khoa học đang được trông chờ ấy mới là bằng chứng vững chắc để chúng ta “nói chuyện” với những nhà đầu tư vi phạm về môi trường, thể hiện quyết tâm và sự kiên định của nhà nước: Không đánh đổi môi trường sống bằng bất cứ giá nào.

[:-/] Phiếu kiểm nghiệm “cá sạch” ở Đà Nẵng có những nội dung gì? (VietTimes) – Sau nhiều nỗ lực, sáng ngày 3/5, hơn 4 tấn cùng các chỉ tiêu kiểm nghiệm được cho là “cá sạch” đã được đưa đến 50 điểm bán tại gần 30 chợ trên toàn thành phố Đà Nẵng. Đây là ngày đầu tiên Đà Nẵng tiến hành “văn bản hóa” việc công nhận sản phẩm “cá sạch” để bán tới người dân.


Giấy xác nhận lô hàng cá sạch được bày tại điểm bán cá

Qua tìm hiểu, phiếu kiểm nghiệm mẫu cá ở Đà Nẵng được tiến hành với 4 chỉ tiêu kim loại nặng gồm: A sen (As), Chỉ (Pb), kim loại chuyển tiếp Camidi (Cd) và Thủy ngân (Hg). Sau khi xác định các chỉ số trong giới hạn cho phép thì lô cá được Chi Cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản (Sở NN & PTNT Đà Nẵng) cấp chứng nhận kết luận là cá sạch.

“Hiện nay tất cả cá về cảng đều được lấy mẫu và chuyển qua 2 trung tâm kiểm nghiệm là Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lương 2 (Quatest 2) và Cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản (Bộ NN & PTNT ) để kiểm nghiệm trước khi xuất bán. Do kiểm nghiệm đối với các chỉ tiêu kim loại nặng nên phải mất 15-16 tiếng đồng hồ mới có kết quả mà không có cách nào khác là phải chờ”, ông Nguyễn Đỗ Tám, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT Đà Nẵng chia sẻ.


Phiếu kiểm nghiệm mẫu cá, cơ sở kết luận “cá sạch”
tại Đà Nẵng với 4 chỉ tiêu kiểm nghiệm kim loại nặng

“Như mẫu cá hôm qua và sáng nay mở bán. Khi tàu vào, chúng tôi lấy mẫu hồi 1h sáng rồi gửi mẫu đến Quatest 2 mãi đến 4h chiều cùng ngày mới có kết quả. Mà chúng ta không có cách nào khác là phải chờ. Đối với lô cá bán sáng nay, các chỉ tiêu kiểm nghiệm cho kết quả đều dưới ngưỡng cho phép. Chỉ tiêu As thì theo Quy chuẩn của Bộ Y tế, còn các chỉ tiêu còn lại thì theo quy chuẩn của ngành. Nên vấn đề hiện nay là tàu về rạng sáng hôm nay thì đến sáng hôm sau mới bán được. Một vấn đề nữa là lúc thời điểm nóng thì mình sẽ kiểm tra các chỉ số kim loại nặng quan trọng nhất thôi. Còn sau các thông tin của các cơ quan chức năng có thẩm quyền khoanh vùng vùng biển an toàn thì chắc sẽ giảm tiêu chí đi để có kết quả nhanh hơn”, ông Nguyễn Đỗ Tám cho biết thêm.

Như vậy, để con cá tươi và được cho là “cá sạch” đến với người tiêu dùng, ngư dân phải chờ ít nhất là 1 ngày từ khi vào bờ, bởi khi phiếu xét nghiệm cho kết quả thì phiên chợ đã kết thúc khá lâu, buộc các ngư dân phải chờ đến phiên chợ hôm sau.

Điều này rõ ràng đã tạo áp lực lên khâu bảo quản hải sản, vì nếu không bảo quản tốt thì “cá sạch” có thể đã… hỏng trong khi chờ kiểm nghiệm. Một ngư dân thừa nhận, đây là vấn đề rất khó và dự báo nếu để đảm bảo cung cấp cá sạch ở quy mô lớn hơn sẽ chắc chắn phải thay đổi, bổ sung hệ thống lưu trữ, bảo quản hải sản.

Bên cạnh đó, hiện việc kiểm nghiệm công nhận “cá sạch” chủ yếu thực hiện đối với 4 chỉ tiêu kim loại nặng. Đồng thời tên việc kiểm nghiệm là nhằm xác định và nếu đạt thì công nhận sản phẩm đã đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.

Nói cách khác, “cá sạch” là tên thường dùng gọi sản phẩm đã qua kiểm nghiệm và đạt chỉ tiêu quy định với 4 loại kim loại nặng trong thành phần cấu tạo, không bao gồm mọi chỉ số có trong thịt cá hay thịt hải sản đã đảm bảo.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s