Môi trường xuống cấp dẫn đến biến đổi xã hội

Posted: May 14, 2016 in Uncategorized
Tags:

Lê Minh Tiến, Đại học Mở TPHCM (TBKTSG) – Có lẽ chưa bao giờ thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng phải đối diện với những vấn nề nan giải của môi trường như bây giờ. Chuyện biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên đang tác động trực tiếp đến đời sống của nhiều người dân bởi nước ta vẫn là nước nông nghiệp mà hoạt động nông nghiệp luôn gắn với môi trường tự nhiên.

� Xem thêm: Nhiều loại khoáng sản Việt Nam sẽ cạn kiệt.


Hạn hán ở ĐBSCL năm nay rất khốc liệt.

Điều đáng nói là phần lớn những vấn đề về môi trường đều do hoạt động của con người gây ra, mặc dù giới chức lãnh đạo thường xuyên đổ lỗi cho ông trời và hình như họ cũng chưa tính đến những hệ quả to lớn về mặt xã hội do các vấn đề về môi trường sẽ gây ra cho xã hội.

Tác động trước mắt mà ai cũng nhìn thấy là những vấn đề của môi trường sẽ tác động trực tiếp đến sinh kế hàng ngày của người dân. Chúng ta thấy rõ điều này khi hạn hán khiến cho hoạt động nông nghiệp bị đình trệ, ô nhiễm nguồn nước khiến cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản gặp khó khăn… Những khó khăn này làm cho đời sống người dân trở nên bất trắc hơn và chính điều này có thể dẫn đến những hệ quả xã hội quan trọng hơn.

Khi kế sinh nhai tại nơi ngụ cư của mình bị đe dọa bởi các vấn đề về môi trường, điều chắc chắn sẽ diễn ra đó là sẽ có những làn sóng di dân đến các vùng đất mới để tìm kế sinh nhai mới. Các làn sóng di dân này sẽ làm cho những nơi tiếp nhận bị quá tải về dân số và kèm theo đó là những  quá tải về giáo dục, y tế, và có thể sẽ là nguồn dẫn đến tình trạng tội phạm cao tại những nơi đón nhận làn sóng di dân.

Những vấn đề về môi trường còn có thể là nguồn dẫn đến sự xung đột xã hội. Trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học môi trường, các nhà nghiên cứu nhận thấy tình trạng ô nhiễm môi trường được phân bố không đồng đều mà họ gọi là “sự phân biệt đối xử về môi trường” (environmental discrimination). Có nghĩa là những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, như các nhà máy sản xuất công nghiệp nặng chẳng hạn, thường được đặt tại những vùng cư dân nghèo.

Vì thế, những vấn đề về ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất gây ra, trước hết, sẽ gây tác động trực tiếp đến cư dân tại các vùng nghèo khó ấy. Tức là có sự bất bình đẳng về mặt môi trường khi các nhóm yếu thế phải gánh nhiều hậu quả nặng nề hơn những nhóm khác khi môi trường tự nhiên bị xuống cấp. Khi tình trạng này vượt quá ngưỡng chịu đựng thì sẽ dẫn đến những xung đột xã hội có thể làm tan vỡ trật tự xã hội.

Mặt khác, biến đổi môi trường diễn ra sẽ làm thu hẹp những khu vực có thể duy trì sự sống. Khi đó, có thể dẫn đến những xung đột lớn để tranh giành không gian sống, bởi đấu tranh sinh tồn là một trong những bản năng của con người. Mà cuộc đấu tranh sinh tồn thì không lúc nào là hòa nhã cả, tức có thể là nguy cơ của bạo lực và giết chóc.

Một nghiên cứu về những tác động xã hội của tình trạng xuống cấp về môi trường tại vùng châu thổ Niger của Nigeria vào năm 2003, trên một mẫu gồm 500 người dân, cho thấy những hệ quả xã hội nghiêm trọng khi môi trường bị suy thoái. Có 95,8% số người được hỏi cho biết việc môi trường xuống cấp dẫn đến thất nghiệp và mất các nguồn sinh kế, 87% cho biết môi trường xuống cấp sẽ gây ra nghèo đói và 60,2% cho biết suy thoái môi trường sẽ gây ra bạo lực (xem bảng).

Thế nên, những vấn đề xã hội nảy sinh từ những biến đổi trong môi trường tự nhiên là không thể xem thường. Những ý kiến mang tính trấn an không bao giờ là đủ vì chúng không giải quyết được những vấn đề căn bản về môi trường lẫn xã hội.

Nhiều loại khoáng sản Việt Nam sẽ cạn kiệt

Anh Phương (BizLive) Theo Báo Sài Gòn Đầu Tư – Đó là cảnh báo được đưa ra tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả thu ngân sách trong khai thác khoáng sản: Từ kinh nghiệm thực tiễn đến các giải pháp chính sách” diễn ra sáng nay 13/5 tại Hà Nội.


Ảnh minh họa.

Tại Hội thảo, ông Trịnh Lê Nguyên (Giám đốc PanNature) cho biết, với quy mô khai thác như hiện nay, nhiều loại khoáng sản của Việt Nam sẽ cạn kiệt trong tương lai gần. Cụ thể, số năm khai thác còn lại của dầu khí là 56 năm, barit là 21 năm, thiếc là 19 năm, chì – kẽm là 17 năm và vàng là 21 năm.

Việt Nam bắt đầu thu thuế tài nguyên từ năm 1991 theo Pháp lệnh Thuế tài nguyên 1990. Để đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn, Pháp lệnh Thuế tài nguyên đã được sửa đổi 2 lần vào năm 1998 và 2008. Đặc biệt, năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật Thuế tài nguyên 2009 thay thế cho Pháp lệnh Thuế tài nguyên.

Tuy nhiên, đóng góp ngân sách từ ngành khoáng sản vẫn rất hạn chế. Theo tính toán từ số liệu thống kê của Bộ Tài chính, số thu thuế tài nguyên ngoài dầu khí chỉ đạt 0,9% – 1,1% tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2011 – 2013.

“Chính sách thuế tài nguyên còn nhiều bất cập, tạo kẽ hở để doanh nghiệp tránh thuế và trốn thuế. Hiện nay, thuế tài nguyên được tính dựa trên sản lượng tính thuế, giá tính thuế và thuế suất. Tuy nhiên, sản lượng tính thuế do doanh nghiệp tự tính toán và kê khai. Ngoài ra, giá bán thuế tài nguyên chủ yếu do UBND tỉnh quy định và có sự chênh lệch khá lớn giữa các địa phương. Nhìn chung, việc kiểm soát sản lượng khai thác và giá tính thuế hiện còn rất yếu, trong khi sự phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên – môi trường chưa hiệu quả”, TS. Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) nhận định.

Đó là chưa kể việc khai thác và xuất khẩu trái phép vẫn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương gây thất thu ngân sách.

Chính sách thuế tài nguyên hiện nay cũng không khuyến khích doanh nghiệp chế biến sâu – ông Hoàng Ngọc Thao (Công ty Apatit Việt Nam) cho biết.

Các ý kiến cũng chỉ ra rằng, nếu tạm tính tỷ lệ thất thu trong khai thác tài nguyên là 5% GDP (mức thấp nhất), hàng năm Việt Nam có thể mất tới 1 tỷ USD. Trong bối cảnh ngân sách khó khăn, Việt Nam cần sớm chỉnh sửa Luật Thuế tài nguyên theo hướng đơn giản, rõ ràng và phù hợp.

Bên cạnh đó, cần có những giải pháp quản lý thuế tốt như tham gia hệ thống trao đổi thông tin thuế tự động giữa các quốc gia; áp dụng sáng kiến minh bạch trong công nghiệp khai thác (EITI)…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s