Lãng phí và tham nhũng, cái nào đáng sợ hơn?

Posted: May 15, 2016 in Uncategorized
Tags:

Nhàn Đàm (MTG) – Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn luôn coi tham nhũng là quốc nạn lớn nhất nhưng nếu so với tình trạng lãng phí tràn lan gây hại cho nền kinh tế, thì chưa chắc cái nào đáng sợ hơn.

� Xem thêm: Nợ công Việt Nam cao so các nước ASEAN + Bội chi ngân sách gần 54.000 tỷ đồng sau 4 tháng.


Lãng phí và tham nhũng luôn đồng hành với chế độ độc tài

Nền kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại đang trải qua một bước ngoặt lớn và nhận được nhiều sự kỳ vọng, khi những cam kết về một chính phủ kiến tạo và phục vụ của thủ tướng đang đồng nghĩa với những cam kết cải cách thể chế mà sự lạc hậu, yếu kém vốn là một trong những nguyên nhân khiến nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng dưới tiềm năng trong những năm qua.

Nhưng ở một số khía cạnh, sự tích cực đó chỉ giống như một ánh đèn lẻ loi trong đêm với nền kinh tế Việt Nam. Đêm không chỉ là thiên tai và nhân tai ở miền Nam và miền Trung, không chỉ là cộng đồng doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn, mà còn trong những vấn đề vĩ mô mà nền kinh tế đang phải đối mặt, chẳng hạn như nợ công bắt nguồn từ tình trạng lãng phí, đầu tư thiếu hiệu quả tràn lan. Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn luôn coi tham nhũng là quốc nạn lớn nhất nhưng nếu so với tình trạng lãng phí tràn lan gây hại cho nền kinh tế, thì chưa chắc cái nào có hại hơn, đáng sợ hơn.

Muốn hình dung một cách tương đối đầy đủ và chính xác về những hậu quả do tình trạng lãng phí tràn lan trong nền kinh tế gây ra cho đất nước và nền kinh tế Việt Nam hiện nay, thì chỉ cần nhìn qua những thống kê về con số nợ công mà Việt Nam đang phải gánh.

Một con số thống kê mới được Bộ Tài chính công bố, theo đó, trong 4 tháng đầu năm 2016, chính phủ đã phải bỏ ra khoảng 2 tỷ USD chỉ để trả nợ và viện trợ. Tình trạng đó đang khiến cho Việt Nam rơi vào tình trạng thu không đủ chi ngày càng trầm trọng hơn, cụ thể tổng thu ngân sách quốc gia trong 4 tháng đầu năm chỉ tăng 1,2% trong khi tổng chi đã tăng tới 4,7%.

Tuy nhiên, con số 2 tỷ USD đó vẫn chưa là gì nếu so với nghĩa vụ trả nợ công của Việt Nam trong vài năm gần đây. Cụ thể thì, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của chính phủ trong năm 2015 là khoảng 296.200 tỷ đồng; và nếu như tính cả nợ bảo lãnh chính phủ và nợ chính quyền địa phương, thì con số nợ phải trả còn lớn hơn rất nhiều, tính tổng cộng trong năm 2015 sẽ vào khoảng 418.400 tỷ đồng, tương đương khoảng 20 tỷ USD.

Chúng ta có thể hình dung được con số 20 tỷ USD này lớn đến chừng nào nếu như nhớ lại một thực tế rằng tổng GDP của Việt Nam trong năm 2015 cũng chỉ mới đạt hơn 200 tỷ USD một chút mà thôi. Nếu so với các quốc gia trong khu vực và trong phạm vi các nền kinh tế mới nổi, thì tỷ lệ nợ công của Việt Nam đang cao hơn hầu hết các nước. Theo báo cáo của chính phủ thì nợ công hiện nay của Việt Nam là khoảng 62,2% GDP, tỷ lệ này cao hơn gấp đôi so với nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và cao gấp rưỡi Thái Lan là nước có mức tỷ lệ nợ công/GDP xếp ngay sau Việt Nam trong khu vực.

Một phần nguyên nhân gây ra tình trạng nợ công trầm trọng hiện nay không gì khác ngoài vấn đề sử dụng nguồn vốn vay một cách lãng phí, không hiệu quả tràn lan trong nền kinh tế. Nếu thống kê các dự án đầu tư thuộc diện ngàn tỷ bị bỏ hoang hay thua lỗ trầm trọng trên khắp cả nước được đăng tải ở các trang báo trong thời gian qua, thì đó hẳn sẽ là một con số khổng lồ.

Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng qua mà đã có tới vài dự án có trị giá hàng ngàn tỷ thuộc diện hấp hối, từ dự án khu công nghiệp gang thép TISCO ở Thái Nguyên với tổng mức đầu tư bị đội lên tới gần 8.000 tỷ đồng, cho đến dự án khủng gần nhất đang đắp chiếu là Nhà máy sản xuất xơ dừa ở Hải Phòng với tổng vốn đầu tư lên tới 7.000 tỷ đồng. Hầu hết các dự án ngàn tỷ này đều được thực hiện dựa trên vốn vay nước ngoài, và việc đầu tư lãng phí và hoạt động không hiệu quả là một trong những nguyên nhân chất thêm gánh nặng nợ nần lên vai người dân và nền kinh tế.

Trên thực tế, đó mới chỉ là các dự án đầu tư do các bộ chủ quản nắm, về lý thuyết là được chính phủ kiểm soát hiệu quả ở mức độ gắt gao hơn. Còn tình trạng sử dụng nguồn vốn vay lãng phí tràn lan ở các địa phương, nơi khả năng kiểm tra của chính phủ yếu hơn, thì còn lớn hơn khá nhiều. Khá nhiều chuyên gia kinh tế đã chỉ ra, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đó là do cơ chế “xin-cho”, chính phủ vay vốn ODA và các nguồn vốn vay nước ngoài khác rồi cho các địa phương vay lại nhưng phần lớn là được cấp phát miễn phí mà không tính lãi.

Điều này khiến cho các địa phương nhầm tưởng rằng đây là nguồn vốn cho không nên xin càng nhiều càng tốt, dẫn đến tình trạng sử dụng lãng phí tràn lan là không thể tránh khỏi. Về lý thuyết các địa phương khi vay sẽ phải tự đứng ra chi trả, nhưng trên thực tế chính phủ vẫn là người bảo lãnh, nếu địa phương không đủ khả năng trả nợ (rất thường xuyên xảy ra) thì chính phủ, tức là toàn dân, sẽ là người phải đứng ra trả thay.

Nói cách khác, tình trạng của Việt Nam hiện nay đang có rất nhiều điểm tương đồng với Hy Lạp, quốc gia đã rơi vào khủng hoảng nợ công do vỡ nợ và là nguyên nhân khiến cả Liên minh châu Âu (EU) rơi vào khủng hoảng. Vấn đề của Hy Lạp cũng tương tự như Việt Nam hiện nay, đó là đi vay quá nhiều nhưng hiệu quả khi đầu tư các khoản vay vào các dự án trong nền kinh tế quá thấp.

Nói cách khác, Hy Lạp cũng có chung một vấn đề như Việt Nam hiện nay, là sử dụng nguồn vốn vay thiếu hiệu quả và tràn lan, tình trạng đó tích tụ trong một thời gian dài dẫn đến việc khối nợ công bùng nổ và vỡ tung. Việt Nam hiện nay cũng đang ngấp nghé có nguy cơ này, khi mà tỷ lệ nợ công/GDP cao hơn nhiều so với các nền kinh tế mới nổi khác trong khi tỷ lệ sử dụng hiệu quả vốn vay lại thấp hơn nhiều.

Về lý thuyết, khả năng kinh tế Việt Nam bị vỡ nợ như Hy Lạp là không cao, do phần lớn các nguồn vốn vay là đến từ trong nước. Tuy nhiên, nó có thể khiến kinh tế Việt Nam tiệm cận tình trạng mà kinh tế Hy Lạp đang gặp phải, đó là rơi vào tình trạng trì trệ lâu dài do bị gánh nặng nợ nần níu chân, không thể tăng tốc và mãi mãi ở vị trí một nền kinh tế trì trệ và chậm chạp. Nói cách khác, nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ rơi vào tình trạng “mãi không chịu lớn”.

Vì thế, có thể thấy so với tham nhũng vốn lâu nay được xem như quốc nạn lớn nhất, thì lãng phí có vẻ như còn đáng sợ hơn nhiều trong ngắn hạn với nền kinh tế Việt Nam. Tham nhũng không/chưa thể khiến kinh tế Việt Nam có nguy cơ khủng hoảng trong ngắn hạn như vấn đề nợ công do lãng phí gây ra.

Tham nhũng vì thế giống như con sâu bên trong khiến thân cây về lâu dài bị mục ruỗng nhưng không chết ngay, còn nợ nần do lãng phí gây ra giống như những nhát rìu đang giáng thẳng vào gốc cây với tần suất ngày càng tăng, và có thể khiến cái cây đổ gục bất cứ lúc nào.

Nhàn Đàm (bài viết có sử dụng một số thông tin từ CafeF, Cafebiz)

Nợ công Việt Nam cao so các nước ASEAN

Thành Long (ĐKNV) – Nợ công là bình thường trong quá trình phát triển, nhưng nợ của Việt Nam cao gấp rưỡi đến gấp đôi nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines, Campuchia thì không còn là bình thường.


Nợ công Việt nam cao so các nước ASEAN (Ảnh: internet)

Khủng hoảng nợ công trên thế giới là nỗi lo toàn cầu

Nợ công lớn sẽ gây đến đổ vỡ kinh tế, như trường hợp Hy Lạp hiện nay đang là một ví dụ, kể từ khi gia nhập Eurozone vào năm 2001 đến khủng hoảng tài chính năm 2008, thâm hụt ngân sách của Hy Lạp trung bình khoảng 5% GDP/năm, so với mức 2% GDP của Eurozone, và Hy Lạp đã phải trải qua nhiều lần cải tổ, nhưng đến nay vẫn chưa thoát ra khỏi khủng hoảng.

Trước đó, cuộc khủng hoảng nợ diễn ra ở các quốc gia Mỹ Latinh trong những năm 1970 và 1980 được coi là thảm họa lớn. Bắt đầu từ Mexico (1982) khi nước này tuyên bố vỡ nợ, sau đó hầu hết các quốc gia trong khu vực (gồm Argentina, Bolivia, Brazil và Ecuador) cũng đều không tránh khỏi vòng xoáy đó.

Trong giai đoạn trên, Brazil, Argentina và Mexico phát triển khá mạnh, chủ yếu do vay nước ngoài quy mô lớn để nâng cấp công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở hạ tầng. Đầu thập niên 1980, các nước Mỹ Latinh bắt đầu gặp khó trong việc trả nợ khi hoạt động xuất khẩu đi xuống do kinh tế thế giới suy thoái. Một một nguyên nhân khác là các khoản vay bị sử dụng không hiệu quả và có liên quan tới nạn tham nhũng.

Nợ công Việt nam cao so các nước ASEAN

Việt Nam có tỷ lệ nợ công so với GDP cao hơn hẳn so các nước ASEAN là con số do TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) công bố trong báo cáo kinh tế vĩ mô quý 1/2016.

Báo cáo cho biết do bội chi tăng cao nên nợ công cũng tăng nhanh trong giai đoạn 2011-2015, từ mức 50,1% GDP lên 62,2% GDP, đã gần giới hạn 65% theo quy định của Luật Quản lý nợ công. Năm 2015 dư nợ Chính phủ cũng ở mức 50,3%, cao hơn giới hạn 50% theo quy định.

Tuy nhiên đó là tính theo cách của Việt Nam, nhưng nếu tính theo thông lệ quốc tế, nợ công Việt Nam còn cao hơn nhiều, vì cần tính đến nợ của doanh nghiệp Nhà nước và các tổ chức công khác.

Ông Cung dẫn số liệu từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhấn mạnh, Việt Nam có mức nợ công/GDP cao hơn hẳn các nước trong ASEAN, gấp đôi nhiều nước và gấp rưỡi Thái Lan, nước có mức nợ công/GDP đứng sau Việt Nam. Và theo dự báo của IMF, Việt Nam là nước duy nhất có nợ công/GDP tiếp tục tăng đến gần 68% GDP năm 2020.

Trong đó, đáng lo ngại, là nghĩa vụ trả nợ công đang tăng lên nhanh chóng. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ tăng từ 185,8 nghìn tỷ đồng năm 2013 lên 296,2 nghìn tỷ đồng năm 2015.

Nếu tính cả nợ bảo lãnh Chính phủ, nợ chính quyền địa phương, con số nghĩa vụ nợ còn lớn hơn rất nhiều, dự kiến năm 2015 là 418,4 nghìn tỷ đồng.

Lo ngại tiếp theo được nêu ra là do tốc độ tăng nghĩa vụ nợ rất nhanh, tỷ lệ nghĩa vụ nợ trên thu ngân sách cũng tăng nhanh. Nếu chỉ tính riêng nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ, tỷ lệ này là 22,4% năm 2013, tăng lên mức 29,9% năm 2015.

Nguyên nhân của tình trạng trên, là do giai đoạn 2010-2012, Chính phủ vay nợ ngắn hạn nhiều, chủ yếu bằng trái phiếu kỳ hạn 1-2 năm, đây sẽ là áp lực rất lớn đối với chi ngân sách.

Phần lớn trái phiếu Chính phủ là do các ngân hàng thương mại mua, vì thế cũng nhiều chuyên gia cho rằng nhà nước đang cạnh tranh với doanh nghiệp trong việc thu hút nguồn vốn từ ngân hàng. Chỉ có nguồn vốn đó thôi, nếu chính phủ vay nhiều thì phần còn lại doanh nghiệp được vay sẽ ít đi.

Vay để trả nợ và bù đắp thiếu hụt ngân sách tăng lên

TS. Nguyễn Đình Cung cũng chỉ ra một điểm đáng lưu ý, là vay mới để trả nợ cũ, vay để bù thiếu hụt, nhưng chi đầu tư ngày càng giảm, chi thường xuyên và chi khác tăng lên.

Trong giai đoạn 2007-2013, chi đầu tư trung bình trong tổng chi là 27,7%, nhưng đã giảm mạnh trong hai năm 2014-2015, chi đầu tư chỉ còn 16,3% và 15,6% GDP.

Chi đầu tư thấp như vậy là một điều đang lo ngại mặc dù tổng đầu tư toàn xã hội năm 2015 vẫn đạt 32,6%, tăng 12% so với năm 2014, do đầu tư FDI và đầu tư tư nhân trong nước tăng cao.

Tuy nhiên, đầu tư FDI tăng lên nhưng hiểm họa về môi trường luôn rình rập và gây rủi ro lớn cho nền kinh tế, như việc cá chết ở 4 tỉnh, lựa chọn môi trường hay là đầu tư tăng trưởng dựa vào FDI đang là câu hỏi lớn. Mấy hôm nay trên mạng xã hội đã nêu nhiều ý kiến người dân là cần chú trọng môi trường, nếu phải chọn giữa “tôm cá” và “nhà máy” như câu trả lời gây “bão” của Formosa thì đa số người dân sẽ chọn “tôm cá”.

Do giai đoạn 2007-2011, bội chi thấp hơn khá nhiều so với chi đầu tư, tức là thu ngân sách lớn hơn chi thường xuyên, chi trả nợ và có một phần cho đầu tư. Từ năm 2012, khoảng cách giữa bội chi và chi đầu tư ngày càng nhỏ lại và đến năm 2015 bội chi đã vượt xa chi đầu tư, tức là Chính phủ phải vay nợ khoảng 60 nghìn tỷ đồng để bù đắp chi thường xuyên và trả nợ.

Điều này đi ngược lại quy định của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, trong đó quy định “trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách Nhà nước”, tác giả báo cáo lập luận.

Nợ công 29 triệu/người: Vấn đề là chống tham nhũng

Thực tế nợ công của Việt Nam tăng nhanh, thậm chí chúng ta đã phải đi vay để trả nợ vay, chủ trương cắt giảm chi tiêu, trong đó, quan trọng là các khoản chi thường xuyên đã được đặt ra. Tuy nhiên, kết quả đạt được lại không mấy khả quan, bội chi ngân sách hàng năm vẫn cao, các mục tiêu cắt giảm xe công, giảm biên chế, giảm hội họp không đạt được kết quả khả quan.

Mục tiêu của thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng  năm 2016 trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội để sử dụng hiệu quả nguồn lực và góp phần tích cực bổ sung nguồn lực thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định đời sống, tiêu dùng của nhân dân, bảo đảm an sinh, xã hội.

Mới đây, ông Nguyễn Ngọc Bảo, ĐBQH đề xuất “Lập hòm nợ công” là nhắc nhở mỗi người dân VN đang cõng 29 triệu nợ công, qua đó đánh thức ý thức tiết kiệm của mỗi người dân. Tuy nhiên, vẫn nhấn mạnh rằng, giải pháp căn cơ vẫn phải là sử dụng hiệu quả, đúng mục đích mỗi đồng tiền bỏ ra.

Đồng tình quan điểm, PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu thương mại cho rằng, hòm nợ công nên đặt ngay trên bàn chính lãnh đạo các cơ quan, bộ ngành, “Hòm nợ công mục đích là để nhắc nhở khi đặt bút ký đầu tư một dự án hay đưa ra một quyết định nào cũng phải nhìn vào bối cảnh nguy khó của ngân sách quốc gia mà quyết định. Tất cả phải hiểu rằng, một quyết định sai sẽ là nguyên nhân đẩy nợ công tăng lên”, vị chuyên gia giải thích.

Bội chi ngân sách gần 54.000 tỷ đồng sau 4 tháng

Bình Nguyên /Zing (cafef.vn) – Báo cáo của Bộ Tài chính công bố con số bội chi ngân sách nhà nước 4 tháng ước đạt 53.600 tỷ đồng, bằng 21,1% dự toán năm.


Bội chi ngân sách gần 54 nghìn tỷ đồng sau 4 tháng

Riêng trong tháng 4/2016, thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước đạt xấp xỉ 86.600 tỷ đồng, tăng 23% so với tháng trước.

Lũy kế thu 4 tháng đầu năm ước đạt 317.000 tỷ đồng, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó:

Số tiền thu nội địa 4 tháng đầu năm ước đạt gần 265.000 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2015.

Thu từ dầu thô và từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt lần lượt 13.000 tỷ đồng và gần 39.000 tỷ đồng, giảm tương ứng 48% và 16% so với cùng kỳ năm 2015.

Theo Bộ Tài chính, mặc dù sản lượng dầu thanh toán 4 tháng ước đạt 5,24 triệu tấn, bằng 37,6% kế hoạch năm, nhưng giá dầu thanh toán bình quân 4 tháng khoảng 36,3 USD/thùng, giảm 23,7 USD/thùng so giá tính dự toán. Trong khi đó, do hoạt động xuất nhập khẩu trong tháng 4 giảm nên đã làm giảm số thu ngân sách từ lĩnh vực này so với cùng kỳ.

Ở chiều ngược lại, tổng chi NSNN tháng 4 ước 93.000 tỷ đồng. Luỹ kế chi 4 tháng đạt trên 370.000 tỷ đồng, tăng 4,7% so cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, riêng việc chi trả nợ và viện trợ trong tháng 4 ước 12.700 tỷ đồng; luỹ kế chi 4 tháng xấp xỉ 52.000 tỷ đồng, bằng 33,5% dự toán, tăng 4,4% so cùng kỳ năm 2015.

Ngoài ra, 4 tháng qua, Chính phủ chi cho đầu tư phát triển hơn 57.000 tỷ đồng, tăng 3,5% cùng kỳ năm 2015. Riêng về thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản, ước đến hết tháng 4 vốn giải ngân cho các dự án là trên 56.000 tỷ đồng, trong đó nhiều bộ, ngành đến 20/4 có tỷ lệ giải ngân vốn đạt dưới 20% kế hoạch; vốn trái phiếu Chính phủ giải ngân ước đạt khoảng 20% kế hoạch (cùng kỳ năm 2015 đạt 25% kế hoạch).

Số còn lại là chi cho phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính với số tiền trong 4 tháng là hơn 261.000 tỷ đồng.

Ngày 21/4/2016, Bộ Tài chính đã có văn bản trình Thủ tướng để ban hành Chỉ thị về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện các nhiệm vụ tài chính – ngân sách Nhà nước năm 2016.

Trong đó, Bộ Tài chính kiến nghị các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương cần bám sát tình hình, thực hiện đầy đủ các giải pháp đã đề ra; chủ động đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách Nhà nước được giao; tăng cường quản lý chi ngân sách bảo đảm chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s