Nếu không vì lo ngại tham nhũng, Mỹ đã là “nhà đầu tư số 1” của Việt Nam?

Posted: May 23, 2016 in Uncategorized
Tags:

Bích Diệp (Dân Trí) – Những năm gần đây, Việt Nam thường xuyên chứng kiến những cuộc “đổ bộ” của các tên tuổi lớn đến từ Mỹ. Tuy nhiên, nhìn chung, tham nhũng vẫn là mối lo ngại của phần lớn doanh nghiệp Mỹ khi tìm hiểu thị trường Việt Nam, khiến Mỹ chưa thể là “nhà đầu tư số 1” như kỳ vọng của hai nước.

� Xem thêm: Dệt – may: bỏ thấp, bắt cao + Nông nghiệp dễ bị tổn thương khi hội nhập.

Các tập đoàn Mỹ đã coi Việt Nam là “thị trường chiến lược”?

Ở những góc ngã tư của các thành phố lớn, thỉnh thoảng người ta lại gặp một cửa hàng đồ ăn nhanh KFC, McDonald’s hay gần đây là Starbuck’s. Mặc dù trên thực tế, Mỹ vẫn chưa phải là “nhà đầu tư số 1” tại Việt Nam như kỳ vọng của hai nước, nhưng sự hiện diện của người Mỹ lại rất gần gũi và quen thuộc, tạo nên một nét văn hóa mới, đầy năng động và hiện đại, lôi cuốn người tiêu dùng Việt Nam trẻ tuổi.

Đến hết năm 2015, ước tính có khoảng trên 11,1 tỷ USD đã được các doanh nghiệp Mỹ “rót” vào Việt Nam, xếp thứ 7 trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, quy mô bình quân vốn đầu tư đạt khá cao với 15 triệu USD/dự án.

FDI của Mỹ tại Việt Nam chủ yếu tập trung tại lĩnh vực lưu trú và ăn uống với 17 dự án, tổng vốn đăng ký gần 4,7 tỷ USD, chiếm hơn 40% tổng vốn đăng ký của các nhà đầu tư nước này tại Việt Nam.

Tuy nhiên, không chỉ có Coca-Cola, Pepsico, hay các chuỗi cửa hàng ăn nhanh phủ sóng trên toàn quốc, người Mỹ còn tới Việt Nam với những cái tên đầy “sừng sỏ” như Intel, Microsoft, P&G, Jabil, Microchip…

Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, theo đánh giá của nhiều nhà đầu tư, so với các nước khác trong khu vực, Việt Nam nổi bật về tiềm năng tiêu dùng và cơ hội mới; do đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Mỹ vào Việt Nam có khả năng tăng lên nhanh chóng trong giai đoạn tới.

Cơ quan này cho hay, một trong những điều quan trọng nhất là chi phí lao động thấp. Chi phí nhân công tăng vọt tại Trung Quốc đang khiến nhiều hãng sản xuất đa quốc gia của Mỹ hướng sự chú ý vào nơi rẻ hơn 50% là Việt Nam.

Điển hình là Microsoft, từ cuối năm 2014, doanh nghiệp này đã chuyển các nhà máy sản xuất smartphone từ Trung Quốc sang Việt Nam, biến Việt Nam trở thành một trọng điểm trong chuỗi cung ứng toàn cầu của tập đoàn.

Theo ghi nhận của Cục Đầu tư nước ngoài, không chỉ đưa các dây chuyền sản xuất về Việt Nam, mang đến những phần mềm, thiết bị và giải pháp mà Microsoft còn tập trung đầu tư về nhân sự, góp phần phát triển các kĩ năng và nguồn lực cho lực lượng IT ở Việt Nam.

“Điều này cho thấy các tập đoàn Mỹ đã coi Việt Nam như một thị trường chiến lược vì những lợi ích lâu dài chứ không chỉ vì những lợi ích trước mắt”, báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài cho biết.

Ngoài ra, nếu nói về quan hệ Việt – Mỹ ở thời điểm hiện tại không thể không nhắc tới Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Điều này đã thúc đẩy nhiều công ty Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Cụ thể, nếu như năm 2013 chỉ có 22 doanh nghiệp Mỹ tìm hiểu môi trường kinh doanh thì trong nửa đầu năm 2014, đã có đến 3 đoàn doanh nghiệp với số lượng lớn (gồm nhiều tập đoàn danh tiếng của Mỹ như Boeing, Apple, AIG, Exxon Mobil…) tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam.

Hồi năm ngoái, đoàn hơn 30 doanh nghiệp thuộc Hội đồng Kinh doanh Mỹ – ASEAN cũng đã đến Việt Nam tìm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực xây dựng. Sự quan tâm này sẽ càng lớn hơn khi Việt Nam tham gia TPP. Đây là điều kiện thuận lợi để các công ty Mỹ gia tăng đầu tư trong đó có việc không ngừng mở rộng quy mô, tăng năng lực sản xuất, tìm kiếm lợi nhuận.

Cục Đầu tư nước ngoài cũng phân tích rằng, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng chính là các thế mạnh sản xuất và đầu tư của Mỹ và hiện đang được các nhà đầu tư Mỹ rất quan tâm. Có thể kể đến dầu khí (Exxon Mobil, Chevron…), hàng không (Boeing, ADC – HAS Airport), công nghệ thông tin (Microsoft, Intel, Apple, HP) và điện (General Electric, General Atlantis, AES)…


Dự báo sẽ có nhiều thương vụ lớn trong chuyến thăm
của Tổng thống Mỹ Obama tới Việt Nam lần này

Nhiều rào cản với “nhà đầu tư số 1 tiềm năng”

Tuy nhiên, cơ quan đầu tư nước ngoài của Việt Nam cũng nhận xét, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam còn thấp so với tiềm năng. So sánh con số vốn doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Singapore và Malaysia, có thể thấy việc thu hút đầu tư của Mỹ vào Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa.

Vậy điều gì đang là rào cản khiến Mỹ – cho đến nay vẫn chưa thể là nhà đầu tư số 1 của Việt Nam? Lý do trước hết chính là vấn đề về minh bạch và tham nhũng.

Có tới 69% số doanh nghiệp Mỹ được hỏi đã trả lời rằng tham nhũng là một trong những vấn đề lớn nhất tại Việt Nam. Tính minh bạch của khuôn khổ pháp lý chưa cao tạo điều kiện cho tham nhũng và việc thực thi pháp luật không nhất quán ở các địa phương.

Bên cạnh đó, sự hạn chế về kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực năng lượng và giao thông ở Việt Nam đã góp phần làm cho các nhà đầu tư FDI nản lòng.

Ngoài ra, điểm mạnh về lao động giá rẻ cũng chính là điểm yếu của Việt Nam. Theo đó, sự thiếu hụt lao động có tay nghề cao đã làm cho các nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc gia tăng chuỗi giá trị, ngay cả khi họ phải tăng thêm chi phí cho lao động.

Mặc dù, Việt Nam hiện nay có lợi thế về chi phí lao động so với Trung Quốc, nhưng không dễ tuyển dụng được nguồn lao động có tay nghề sẵn có đáp ứng được các ngành sử dụng công nghệ cao, mà phải mất thêm chi phí để đào tạo.

Trong khi đó, trong 5 năm qua, những chi phí như lao động, thuê văn phòng, nhà ở đã gia tăng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vẫn chưa đáng kể, chưa làm hài lòng nhiều nhà đầu tư.

Tóm lại, đối với cộng đồng kinh doanh Mỹ, việc Việt Nam chủ động tham gia Hiệp định TPP làm cho Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư Mỹ, khiến cho thị trường Việt Nam “khác biệt” so với các quốc gia khác tại khu vực ASEAN không phải là thành viên TPP. Vì vậy, Việt Nam sẽ có thể là sự lựa chọn ưu tiên của các công ty Mỹ có trụ sở tại Hồng Kông trong việc dịch chuyển đầu tư ra ngoài Trung Quốc.

Nhiều công ty, tập đoàn lớn của Mỹ hiện đang có kế hoạch chuyển phần lớn cơ sở sản xuất sang Việt Nam như: Tập đoàn Nike, Inc, Tập đoàn dệt may Mast Industries, Ltd, P&G… Phòng Thương mại Mỹ ở Singapore (Amcham Singapore) cũng công bố khoảng 57% doanh nghiệp Mỹ hoạt động trong khu vực ASEAN đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn nhất để mở rộng đầu tư.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Obama tới Việt Nam lần này, nhiều dự báo cho rằng, doanh nghiệp hai bên cũng sẽ có những hợp đồng “khủng”.

Tuy vậy, trong lâu dài, nếu Việt Nam muốn trở thành điểm dừng chân của các nhà đầu từ Mỹ nói riêng và các FDI chất lượng nói chung thì Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa để gia tăng tính minh bạch và cải thiện hiệu quả môi trường đầu tư, kinh doanh.

Dệt – may: bỏ thấp, bắt cao

Văn Nam (TBKTSG) – Hàng loạt khách hàng dệt may đã chuyển đơn đặt hàng từ Việt Nam sang Myanmar và Lào để hưởng thuế suất ưu đãi hàng đi châu Âu và Mỹ. Trước hiện tượng này, doanh nghiệp trong nước chọn lo giữ chặt các đơn hàng hay lo cơ cấu lại chuỗi sản xuất theo hướng bền vững hơn?


Ngành dệt may cần nhắm tới “thỏa mãn những khách hàng khó tính
hơn là chạy theo giữ các đơn hàng giá trị thấp”. Ảnh: Văn Nam

Trong một hội nghị tại TPHCM vào cuối tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam Vũ Đức Giang đã nêu một thực trạng là ngành dệt may đang đứng trước nhiều thách thức, đặc biệt, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) phải đóng cửa do mất khả năng cạnh tranh và vì điều kiện sản xuất hết sức khó khăn. Riêng trong quí 1-2016, hàng loạt khách hàng dệt may Việt Nam đã chuyển đơn hàng sang Myanmar và Lào do các nước này có ưu đãi thuế suất hàng đi châu Âu và Mỹ.

Có ý kiến nhận định hiện tượng này chỉ là tạm thời. Nhưng nếu xâu chuỗi lại, đối chiếu một cách tổng thể năng lực của ngành dệt may trong nước, từ nguồn nguyên phụ liệu, nguồn nhân lực, phương thức sản xuất đến công nghệ, máy móc thiết bị…, sẽ thấy chuyện mất đơn hàng lúc này là “liều thuốc mạnh” để các doanh nghiệp tự nhìn lại, có kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh theo hướng bền vững hơn.

Doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều đang xoay xở

Ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch HĐQT Công ty May Sài Gòn (Garmex Saigon), tỏ ra lo lắng trước sự dịch chuyển đơn hàng sang Myanmar, Lào, Campuchia hay Bangladesh. Theo ông, sự trỗi dậy của ngành dệt may các nước này là có thật. Năng suất thực hiện những đơn hàng giá trị trung bình, thấp của họ đang cạnh tranh hơn Việt Nam do chi phí lao động thấp hơn.

Tuy nhiên, chia sẻ về hướng đi của Garmex Saigon trong vài năm gần đây là tập trung vào những đơn hàng có độ khó (đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao và kỹ năng khéo léo của người lao động) thì ông Hùng cho biết nỗi lo trên không phải là quá lớn: “Chúng ta khó cạnh tranh ở các đơn hàng số lượng lớn, giá thành thấp, nhưng lại có lợi thế hơn trong việc đáp ứng yêu cầu của những nhãn hàng trung và cao cấp. Đây cũng là đường hướng được Garmex Saigon tập trung phát triển trong vài năm gần đây để tăng sức cạnh tranh”.

Tại doanh nghiệp có hơn 4.000 công nhân đang làm việc này, những đơn hàng không đòi hỏi kỹ thuật cầu kỳ như áo thun, áo nỉ, áo polo, quần jean… đang được chuyển về các nhà máy ở Vũng Tàu, Quảng Nam có chi phí nhân công rẻ hơn, trong khi nhà máy tại TPHCM được dành để tập trung cho những đơn hàng kỹ thuật cao, giá trị cao. Đứng trên quan điểm phát triển của Garmex Saigon, ông Hùng đưa ra đề xuất chung cho ngành dệt may là cần nhắm tới “thỏa mãn những khách hàng khó tính hơn là chạy theo giữ các đơn hàng giá trị thấp”. “Quan trọng nhất là mỗi doanh nghiệp phải tự nỗ lực để tăng sức đề kháng”, ông nói.

Trong khi đó, Công ty cổ phần May Sài Gòn 2 (tại quận Tân Bình, TPHCM), nơi có khoảng 1.400 công nhân làm việc, đang tập trung áp dụng các quy trình sản xuất tinh gọn, phương thức quản lý hiện đại nhằm cải thiện năng suất, đáp ứng một cách ổn định các đơn hàng xuất khẩu đi Nhật, Mỹ, châu Âu. Ông Nguyễn Hữu Toàn,

Phó tổng giám đốc công ty, thừa nhận việc cải tổ hoạt động để đón đầu TPP của phần lớn DNNVV lúc này rất gian nan, bởi cần phát triển theo chuỗi liên kết từ sợi – dệt – nhuộm – may. Việc này đòi hỏi tiềm lực vốn rất lớn.

Đó là chưa kể “nút thắt cổ chai” của ngành dệt may hiện nay nằm ở khâu nhuộm khi việc đầu tư cần đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Do vậy, điều ông Toàn cho là công ty ông có thể làm được trong lúc này chỉ là tập trung cải thiện năng suất; tìm kiếm, hợp tác với các nhà máy dệt trong nước chuyển hướng từ sử dụng nguyên liệu nhập của Trung Quốc sang sử dụng nguyên liệu trong nước cho các đơn hàng xuất đi Mỹ.

Một doanh nghiệp đầu ngành là tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) thì đang theo đuổi chiến lược chuyển đổi mô hình sản xuất từ cắt may gia công (CMT) sang sản xuất trọn gói (FOB), tiến tới sản xuất trọn gói kèm thiết kế (ODM) để đạt biên lợi nhuận tốt hơn. Mục tiêu mà Vinatex nhắm đến là nâng tỷ lệ hàng FOB lên 60% (hiện nay là 52%) và ODM là 20% (hiện nay là 8%) vào năm 2020.

Một số dự án được Vinatex đầu tư từ năm 2016 nhằm góp phần tăng nguồn cung nguyên liệu sợi trong nước như dự án Nhà máy Sợi Nam Định (4.770 tấn/năm); Nhà máy Sợi Phú Cường tại Đồng Nai (6.000 tấn/năm); và một số dự án của các đơn vị thành viên như Nhà máy Sợi Đồng Văn 1 tại Hà Nam (5.500 tấn/năm), Nhà máy Sợi Thăng Bình ở Quảng Nam (4.500 tấn/năm) cùng các nhà máy may, nhuộm khác. Đây là những động thái của Vinatex nhằm đón đầu hiệu quả mang lại từ các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có TPP và FTA Việt Nam – EU.

Từ nhận thức của doanh nghiệp đến bài toán liên kết

Hiện nay, nguồn nguyên liệu vải sợi trong nước còn hạn chế, các nguyên phụ liệu sản xuất hàng thời trang hiện đại thì càng thiếu hơn nữa, nếu muốn có nguồn vải đa dạng, đáp ứng yêu cầu khách hàng chỉ còn cách nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc.

Trao đổi với TBKTSG, một chuyên gia lâu năm trong ngành dệt may thừa nhận khó khăn của ngành này ngày càng hiện rõ, một phần do sức tiêu thụ từ các thị trường lớn suy giảm, phần khác là những yếu kém tồn tại lâu dài trong ngành, như thiếu sáng tạo; phần lớn làm gia công, giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp; bị động về nguyên phụ liệu và dựa nhiều vào nhập khẩu… Theo vị này, trong cuộc “chạy đua” đón đầu việc hưởng lợi từ các FTA để tăng lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp nội đã tỏ ra thua kém các doanh nghiệp FDI, thậm chí có doanh nghiệp còn ngơ ngác, chưa hiểu gì về lợi ích từ các FTA mang lại. Vị này cho rằng: “Trong lúc này, doanh nghiệp cần biết không thể tham gia vào sân chơi lớn bằng cách đứng đơn lẻ mà phải tạo sức mạnh theo chuỗi. Có thể đang có những đơn hàng chạy khỏi Việt Nam nhưng các doanh nghiệp cần bình tĩnh nâng sức cạnh tranh bằng gia tăng giá trị sản phẩm, bằng chất lượng tốt hơn, dồn lực vào phân khúc cao hơn để phát triển bền vững hơn chứ đừng chạy đua lấy đơn hàng bằng mọi giá”.

Ở tầm quy hoạch ngành, các doanh nghiệp dệt may cho rằng gia nhập TPP mà vẫn phụ thuộc nhập khẩu nguyên phụ liệu thì cũng chẳng mang lại nhiều lợi ích. Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may – Thêu đan TPHCM, đã thẳng thắn nhận định: “Nếu doanh nghiệp trong nước còn mua vải nước ngoài về gia công hoài thì dù cố gắng lấy nhiều đơn hàng, lợi nhuận thu về cũng chẳng được là bao”. Ở đây, ngoài sự nỗ lực của doanh nghiệp, cần có thêm sự định hướng, phát triển vùng nguyên liệu để thỏa mãn các yêu cầu về truy suất nguồn gốc nguyên liệu thì doanh nghiệp mới tận dụng được ưu đãi thuế khi các FTA có hiệu lực.

Càng gần đến giờ G của TPP và các FTA khác, ông Hồng cho rằng doanh nghiệp càng phải chú trọng đến tính bền vững và lâu dài trong từng khâu sản xuất của mình, hơn là ngồi lo chuyện được – mất bởi sự chuyển dịch của một số đơn hàng.

Cụ thể, bài toán cần giải lúc này của doanh nghiệp là tăng cường liên kết, tạo sự kết nối cung cầu giữa các doanh nghiệp dệt may với các nhà sản xuất nguyên phụ liệu trong nước chứ không theo kiểu mạnh ai nấy chạy nữa. Ngoài ra, cần kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sản xuất nguyên phụ liệu nhiều hơn và

Nhà nước cần hỗ trợ mạnh hơn cho các doanh nghiệp dệt may lớn đầu tư mở rộng, phát triển sản xuất nguyên phụ liệu.

Song song đó, hiệp hội và các cơ quan chức năng địa phương cần tăng cường mở các buổi phổ biến kiến thức cho doanh nghiệp trong nước nắm chắc các quy định về xuất xứ, về sở hữu trí tuệ, an toàn lao động, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội… tuân theo các FTA sắp có hiệu lực mà trước mắt là TPP.

Nông nghiệp dễ bị tổn thương khi hội nhập

H.V /Báo tin tức (cafef.vn) – Việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do và khu vực là cơ hội cho nông sản Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu không có sự chuẩn bị tốt thì 10 triệu hộ nông dân chẳng những không tận dụng được cơ hội để xuất khẩu hàng hóa mà còn có nguy cơ thua ngay trên sân nhà.


Ngành nông nghiệp đang tái cơ cấu chăn nuôi
để thích ứng với hội nhập. Ảnh: Vũ Sinh /TTXVN

Việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do và khu vực là cơ hội cho nông sản Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu không có sự chuẩn bị tốt thì 10 triệu hộ nông dân chẳng những không tận dụng được cơ hội để xuất khẩu hàng hóa mà còn có nguy cơ thua ngay trên sân nhà.

Nhỏ lẻ nên dễ bị tổn thương

Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc, Việt Nam là nước được hưởng lợi nhất so với 11 quốc gia tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, lĩnh vực nông nghiệp có thể đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó, lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi được dự báo sẽ phải cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài khi các hàng rào thuế quan được giảm bớt và loại bỏ…

Một điều tra của Cục Thống kê gần đây cho thấy, gần 90% số nông hộ chăn nuôi cả bò, lợn, gà, vịt là quy mô nhỏ lẻ (dưới 10 con với đàn lợn, dưới 100 con với đàn gà, vịt). Họ sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn hơn bởi hàng hóa nông sản của các nước do quy mô sản xuất quy lớn và trình độ sản xuất tiên tiến có ưu thế hơn hẳn về cả giá cả, chất lượng.

Nông dân Nguyễn Văn Thơm, xã Tân Trào, huyện Thanh Miện (Hải Dương) cho biết: “Năm 2000, gia đình tôi đã xây dựng được khu chăn nuôi với diện tích gần 2 ha. Với quy mô chăn nuôi 2.000 vịt đẻ trứng, 2.000 vịt hậu bị, trên 500 gà, cá giống, cá thịt… , riêng doanh thu từ trứng vịt đạt khoảng 1,2 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, từ nửa cuối năm 2015 đến nay, do thịt gà ngoại nhập với số lượng lớn, giá rẻ nên đã cạnh tranh mạnh với sản phẩm chăn nuôi trong nước. Giá thịt gà công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện đã xuống mức thấp”. Ông Thơm cho biết, nhiều hộ chăn nuôi gà công nghiệp siêu thịt không có lãi, phải giảm quy mô hoặc ngừng sản xuất. Giá gà thịt lông màu cũng xuống thấp nên người chăn nuôi không có lãi và phải thu hẹp sản xuất.

Còn theo TS Phạm Nguyên Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, giá thịt lợn của Mỹ đang cao hơn của Việt Nam trung bình 40%, trong đó chi phí vận chuyển 20% và 20% còn lại do Việt Nam đánh thuế. Tuy nhiên, khi TPP có hiệu lực, hầu hết nông sản đều giảm thuế về 0%, thịt lợn Mỹ sẽ tràn vào Việt Nam với giá rẻ hơn trong nước khoảng 15 – 20%.

Nâng cao khả năng cạnh tranh

Theo Hội Nông dân Việt Nam, khi hàng rào thuế quan bị xóa bỏ theo các cam kết hội nhập, hàng nông sản trong nước sẽ chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn với hàng hóa nhập khẩu.

Đối với hàng hóa nông sản, thách thức đặt ra là hàng rào phi thuế quan tức là các rào cản kỹ thuật sẽ được các nước áp dụng phổ biến hơn và yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng khắt khe hơn. Các chuyên gia nông nghiệp cho rằng, để hỗ trợ cho xuất khẩu nông sản cần giảm bớt thủ tục phiền hà, các loại phí và kệ phí, thực hiện theo thông lệ quốc tế trong các chứng nhận hàng hóa, kiểm dịch động vật…, nhằm tạo điều kiện cho hàng hóa nông sản đủ điều kiện được lưu thông nhanh chóng.

Trong thời gian qua, sản xuất nông nghiệp có hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh” do một số hộ nông dân và doanh nghiệp sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, làm giảm niềm tin của người tiêu dùng, giảm tính cạnh tranh của hàng nông sản trong nước với nông sản ngoại. Để hỗ trợ nông dân tăng khả năng cạnh tranh, nông dân Nguyễn Văn Thơm cho rằng, Nhà nước cần có biện pháp quản lý chất lượng vật tư, con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y… xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, có cơ chế hỗ trợ chăn nuôi sạch, an toàn. “Ngành nông nghiệp cần xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất và cung ứng nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm chất lượng và an toàn. Như vậy mới cạnh tranh được với nông sản nhập ngoại”, TS Phạm Nguyên Minh nhấn mạnh.

Để hỗ trợ người nông dân, ông Lều Vũ Điều, Phó Chủ tịch Thường trực Hội nông dân Việt Nam cho biết, hội sẽ chủ động khắc phục hạn chế, nâng cao năng lực sản xuất cho nông dân bằng nhiều giải pháp thiết thực như: Đẩy mạnh tuyên truyền cho nông dân nắm được lợi thế của từng vùng sản xuất; hỗ trợ nông dân xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường cho hàng hóa nông sản; phối hợp với chính quyền, sở ngành các nhà khoa học, đặc biệt là các doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị và xây dựng “liên kết 4 nhà”… để nâng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.

“Trong “sân chơi” hội nhập, áp lực cạnh tranh là rất lớn, nếu nông dân vẫn sản xuất manh mún, lạc hậu thì nguy cơ thua ngay trên sân nhà là rất lớn”, ông Đỗ Hồng Kỳ, Phó Chủ tịch Hội nông dân Bình Thuận cho biết.

Ông Jong Ha Bae, Trưởng đại diện Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc tại Việt Nam cho biết, Việt Nam cần thúc đẩy đầu tư lớn vào nông nghiệp thông qua cơ chế ưu tiên để thu hút khu vực tư nhân tham gia. Tập trung vào việc tăng năng suất trong nông nghiệp và phi nông nghiệp, tạo thêm cơ hội việc làm và nâng cao sinh kế người dân nông thôn. Cùng với đó, Việt Nam cần có chiến lược cụ thể ở các cấp độ để giúp nông dân chủ động đổi mới khi hội nhập như: phân cấp, trao quyền địa phương để giảm thiểu chi phí gián tiếp; cải thiện quyền sử dụng đất và quản lý tài nguyên để nông dân tiếp cận; đào tạo nghề cho nông dân khi tham gia TPP, giải quyết thách thức về đổi mới thể chế và chính sách.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s