Tỷ giá, hạn hán gây bất lợi cho xuất khẩu nông sản

Posted: May 29, 2016 in Uncategorized
Tags:

Trúc Diễm (TBKTSG) – Xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực suy giảm mạnh trong thời gian qua chủ yếu do đồng tiền của các nước đối thủ cạnh tranh phá giá mạnh, khiến hàng nông sản của Việt Nam kém sức cạnh tranh hơn. Bên cạnh đó, hạn hán, xâm nhập mặn cũng ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn cung xuất khẩu.

� Xem thêm: Bơm tạp chất, cắm tăm… cho tôm xuất ngoại: Bán rẻ khách vẫn bỏ chạy + Phân bón giả gây thiệt hại 2 tỉ USD mỗi năm + 50% số lượng thuốc trừ sâu nhập về Việt Nam là từ Trung Quốc.


Tỷ giá gây tác động kép tới xuất khẩu nông sản. Ảnh: Trúc Diễm

Tại hội nghị “Triển vọng thị trường ngành nông nghiệp Việt Nam năm 2016” do Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard) tổ chức hôm nay, 27-5, tại Hà Nội, ông Nguyễn Trung Kiên, Trưởng bộ môn nghiên cứu thị trường và ngành hàng của Ipsard, cho hay năm 2015 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản thấp nhất trong 5 năm chủ yếu do mức tăng trưởng sản lượng lương thực, cây công nghiệp hàng năm và thủy sản chậm lại.

Bước sang quý 1-2016, tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản âm do sản xuất nông nghiệp giảm mạnh, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đến cuối tháng 5-2016, hạn hán và xâm mặn khiến sản lượng lúa đông xuân tại ĐBSCL giảm 1,13 triệu tấn; sản lượng tôm sú giảm 12%, tôm thẻ giảm 14%; một số diện tích cà phê chết khô, năng suất kém; năng suất trái cây có múi và dừa, hạt tiêu đều giảm mạnh.

Về xuất khẩu, báo cáo của Ipsard cho thấy năm 2015 giá trị xuất khẩu tiếp tục giảm. Cụ thể, xuất khẩu cà phê giảm trên các thị trường lớn và truyền thống như Đức, Ý, Nhật, Nga… Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc và Philippines cũng giảm. Một số mặt hàng xuất khẩu như đồ gỗ, hạt điều, rau quả, hồ tiêu… có mức tăng trưởng kim ngạch tốt, ví dụ gỗ và sản phẩm gỗ, tăng 10,7%; hồ tiêu (tăng 5%); hạt điều (tăng 21%); rau quả (23%) và những mặt hàng này tiếp tục cho thấy tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong quí 1-2016, nhưng, theo đánh giá của Ipsard, các mức tăng này không đủ bù đắp được sự suy giảm tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản.

“Chính sách tỷ giá của nhiều nước gây bất lợi cho nông sản xuất khẩu Việt Nam. Cụ thể, năm 2014-2015, so với đô la Mỹ, đồng real của Brazil giảm 42%, đồng peso của Colombia giảm 37%, đồng rupee của Ấn Độ giảm 5%, đồng rupiah của Indonesia giảm 13%, đồng ringgit của Malaysia giảm 19%, và đồng baht Thái Lan giảm 5%, trong khi tiền đồng của Việt Nam chỉ giảm 3%”, ông Kiên nói.

Không chỉ đồng tiền của các nước cạnh tranh trực tiếp với nông sản Việt Nam giảm giá, trong năm 2015, đồng tiền của các nước phát triển cũng giảm giá mạnh so với đô la Mỹ như đồng euro, đồng yên Nhật…khiến nông sản xuất khẩu bằng đô la Mỹ bất lợi trên các thị trường này. Do đó, tỷ giá đã gây tác động kép tới kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam.

Theo các chuyên gia nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp được dự đoán phục hồi nhẹ trong nửa cuối năm 2016 do hiện tương La Nina làm tăng lượng mưa tại Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam. Do vậy, Tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO) dự báo, trong thời gian tới, giá nông sản sẽ tương đối ổn định, không có cú sốc nào về giá. Do đó, Việt Nam nên tập trung vào nâng cao chất lượng, chế biến theo chiều sâu, chú trọng phát triển thị trường tiềm năng.

Dự báo của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2016 cho thấy, giá gạo sẽ phục hồi từ quí 2-2016 nhưng vẫn giảm 7,4% so với 2015. Năm 2016, nguồn cung gạo giảm do hạn hán, xâm nhập mặn; tồn kho tại Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ giảm nhưng vẫn ở mức cao; sản xuất được dự đoán phục hồi trong nửa cuối năm.

Đối với cao su, giá cả có khả năng phục hồi dần nhưng chịu ảnh hưởng mạnh của biến động giá dầu. IMF dự báo năm 2016 giá cao su phục hồi 4,7% so với cuối năm 2015.

Ngược lại, giá hồ tiêu dự báo có thể giảm trong năm 2016 do lượng tồn kho hồ tiêu còn lớn, sản xuất trong nước ồ ạt, có thể gây dư cung, giảm giá, trong khi khối lượng tồn kho hồ tiêu thế giới tăng mạnh trong năm 2015. Bên cạnh đó, đã có nhiều cảnh báo của các nhà nhập khẩu châu Âu về tồn dư chất bảo vệ thực vật trong hồ tiêu Việt Nam và chuyển sang mua hồ tiêu Brazil.

Điểm sáng lớn trong xuất khẩu nông sản năm 2016 nằm ở xuất khẩu rau quả. Theo Ipsard, nhiều khả năng rau quả Việt Nam hưởng lợi từ căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Phillipines. Hơn nữa, các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc, NewZealand, Hàn Quốc, EU, Ấn Độ, Chilê…. còn rất nhiều dư địa cho tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu.

Bơm tạp chất, cắm tăm… cho tôm xuất ngoại:
Bán rẻ khách vẫn bỏ chạy

Diệu Thùy/Infonet (Cafef.vn) – DN thủy sản bức xúc vì tôm sú xuất khẩu bị bơm tạp chất, cắm tăm tre, tăm dừa… khiến khách hàng Nhật tẩy chay, chuyển sang mua tôm sú Philippines và Indonesia dù giá cao hơn tôm VN

Xuất khẩu giảm thê thảm

Tại phiên hội thảo Ngành hàng thủy sản – năng lực cạnh tranh và ứng phó với biến đổi khí hậu diễn ra ngày 27/5, bà Lê Hằng- Phó giám đốc trung tâm Vaseppro (Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam) cho biết xuất khẩu thủy sản trong năm 2015 đạt 6,57 tỷ USD, giảm 16,1%. Trong đó xuất khẩu tôm đạt 3 tỷ USD, giảm 25%; xuất khẩu cá tra đạt 1,56 tỷ USD, giảm 11,5%.

Xuất khẩu giảm mạnh, nhưng diện tích tôm sú tại ĐBSCL tăng cả về diện tích và sản lượng lần lượt là 1,59%; 4,3%.

Dự báo trong năm 2016, xuất khẩu thủy sản cũng phải đối mặt với không ít thách thức như hạn hán, nhiễm mặn, thuế chống bán phá giá cá tra, tôm cao, giá nguyên liệu tăng khó cạnh tranh…

Tuy nhiên ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cho rằng số liệu đó không phản ánh thực trạng sản xuất nuôi tôm Việt Nam. Thực ra sản lượng tôm sú 4 tháng đầu năm 2016 tăng là do lượng tồn kho của 2015 chuyển qua chứ không phải tăng do sản xuất. Tại các nhà máy chế biến chỉ bằng 30- 50% so với cùng kỳ năm 2015.

“Chúng tôi đi về tận ao nuôi để điều tra, diện tích thả giống từ đầu năm đến giờ chỉ được khoảng 20%, nhiều hộ đã phải treo ao”, ông Phú nói.

Bên cạnh đó, ông cũng rất bức xúc trước tình trạng tôm sú đang đối mặt với nạn bơm tạp chất, cắm tăm tre, tăm dừa.

“Khi tôi sang công tác ở Nhật, khách hàng Nhật nói vì tình trạng như vậy nên họ không mua tôm sú Việt Nam mà chuyển sang mua tôm sú Philippines và Indonesia mặc dù giá tôm sú của hai nước này cao hơn Việt nam từ 2- 3 USD. Nhiều khách hàng lớn của các nước cũng từ chối mua tôm sú của Việt Nam”, ông Quang nói.

Ông Quang cho biết, giá tôm sú năm 2015 giảm thê thảm và hiện nay cũng rất thấp. Tôm sú quảng canh của Việt Nam rất ngon nhưng chỉ vì một vài thương lái làm ăn gian dối, gian lận làm mất thương hiệu, khách hàng từ chối không mua khiến hàng tồn kho, doanh nghiệp phải giảm giá bán.

“Giá tôm sú của Indonesia, size 16- 20 là 15,8 USD, trong khi đó mình năn nỉ gãy lưỡi bán cho Nhật may ra mới được 13 USD”, ông Quang dẫn chứng.

Ông Quang cho biết, vấn đề an toàn thực phẩm là vấn đề bức xúc nhất hiện nay. Để “cứu” lấy doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của bạn hàng, ông đã phải áp dụng biện pháp theo dõi quá trình nuôi, trước khi thu hoạch cho người đến lấy mẫu kiểm tra, giám sát, niêm phong xe chở về nhà máy.

“Việc giám sát đến từng hộ sản xuất nhỏ lẻ rất khó nhưng tôm về đến nhà máy đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên chi phí bị đội lên. Theo tính toán của chúng tôi, từ giám sát ao, áp tải xe vì sợ tráo hàng, tiền kiểm kháng sinh, giám sát mất 8.400 đồng/kg. Chi phí cao, làm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp kém đi”

Ông Quang cho rằng, ngành tôm Việt Nam đang đối mặt với thách thức, rủi ro. Không còn con đường nào khác cứu con tôm bằng cách thành lập các chuỗi giá trị có trách nhiệm, để thương lái thu gom, nuôi trồng phải có trách nhiệm với sản phẩm công việc của mình, để họ thấy được nếu làm ăn gian dối là tự lấy dao đâm vào mình.

“Chuyện bơm tạp chất, bản thân tôi và Nguyên thứ trưởng Bộ Thủy sản cũng đã đấu tranh 20 năm nay mới thắng lợi, đến 1/7 này việc dùng kháng sinh sẽ xử lý hình sự, hi vọng từ đây tình trạng bơm tạp chất sẽ chấm dứt”, ông Quang nói.

Gánh vàng ra biển đổ

Tại phiên thảo luận, có ý kiến cho rằng kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói chung đạt 6,7 tỷ USD năm 2015 nhưng Việt Nam phụ thuộc 70- 80% thức ăn chăn nuôi của nước ngoài.

Riêng về cá tra, cá ba sa, Việt Nam được đánh già là một mình một thị trường, sản xuất rất lớn. Đáng lý ra chúng ta có quyền quyết định về giá nhưng chúng ta không làm được điều đó. Đã có lúc giá xuống thấp khiến người nuôi phải bỏ ao. Lý do chính là gì?

Trả lời câu hỏi này, ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hiệp hội cá tra cho rằng, Việt Nam thiếu sự liên kết giữa những người chế biến, thiếu tính cộng đồng.

TS. Nguyễn Việt Thắng bức xúc: “Liên kết giữa những nhà chế biến với nhau rất kém. Ông cha ta nói buôn có bạn, bán có phường nhưng chúng ta nói như thế nhưng không bao giờ làm như thế. Nếu không xây dựng những nhóm như thế này thì giá cá tra còn xuống nữa.

Kể lại câu chuyện của mình với bạn hàng, ông Lê Văn Quang cũng chia sẻ: “Chúng ta đã có lúc đưa ra quy định giá sàn nhưng lại thối lại cho khách hàng 20 cent, 30 cent. Họ nói mua cá Việt Nam rẻ nhưng chưa bao giờ có lời tại vì vừa mua giá 4 USD nhưng đang đi nửa đường đã có người bán 3,8 USD, hình thành thị trường 3,5 USD.”

Chính vì thế mới dẫn đến cây chuyện vì sao cá lại giảm giá nhanh như vậy: “Khi tôi làm việc với khách hàng, họ nói cá tra, cá ba sa Việt Nam ngon, họ rất thích, giá 10 USD vẫn rẻ, nhưng bây giờ chỉ còn dưới 3 USD. Họ nói Việt Nam giống như gánh vàng ra biển đổ”.

Ông Phạm Anh Tuấn, Nguyên Phó tổng cục trưởng, Tổng cục Thủy sản cho rằng giá cá giảm nhanh do cung cầu, nguyên nhân chính đẩy sản lượng lên quá nhanh. Lúc đầu 100- 200 nghìn tấn, trong vài năm sau đẩy lên vài triệu tấn. Lợi nhuận ngày càng thấp khiến người nuôi lại chuyển sang giai đoạn 2 là làm hàng kém chất lượng, tăng mạ băng….

Trước những thách thức trên, ông Quang kiến nghị, Bộ NNPTNT cần có các chương trình cụ thể để nâng cao nhận thực về tôm sạch cho người nuôi; Xem xét lại chính sách tạm nhập tái xuất nguyên liệu qua biên giới với Trung Quốc; Rà soát cấp phép và kiểm soát giá, chất lượng vật tư cung cấp cho sản xuất, thực hiện thanh tra xử lý mạnh tay nếu vi phạm….

Chủ tịch Hiệp hội cá tra cũng kiến nghị, Bộ NNPTNT phối hợp với Bộ Công thương cho phép Hiệp hội có quyền công bố danh sách các thành viên trong Hiệp hội không tuân thủ các cam kết/quy chế/điều lệ trong phát triển ngành hàng bền vững; đồng thời ban hành các chế tài phạt các thành viên này khi Hiệp hội công bố danh sách. Đồng thời, các phòng thương vụ ở nước ngoài phải hỗ trợ thông tin thị trường cho các Doanh nghiệp, hiệp hội.

Phân bón giả gây thiệt hại 2 tỉ USD mỗi năm

(Cafef.vn) Theo Tuổi trẻ – Theo Hiệp hội Phân bón VN, nạn phân bón giả, phân bón kém chất lượng đã và đang gây hại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp, môi trường, người nông dân, uy tín của các doanh nghiệp ngay thẳng…

Cũng theo hiệp hội này, phân bón giả gây thiệt hại tới 2 tỉ USD mỗi năm cho nền kinh tế.

Có khá nhiều nhãn hiệu phân bón uy tín và thương hiệu được người tiêu dùng biết đến trên thị trường. Tuy nhiên, việc lựa chọn phân bón đúng chất lượng thật sự là một khó khăn đối với người nông dân, bởi những thương hiệu phân bón này lại là đối tượng mà các đơn vị sản xuất phân bón giả nhắm đến để làm giả nhiều nhất.

Người nông dân thường chọn mua sản phẩm theo thương hiệu lớn, quen thuộc nên càng dễ dính “bẫy” các đơn vị làm giả. Việc bón các loại phân kém chất lượng, có khi chỉ đất, mùn trộn phụ gia, cây sẽ kém phát triển, năng suất thấp, dễ sâu bệnh, làm mùa màng thất bát, thu nhập và đời sống của người nông dân đã khó càng thêm khó.

Nạn phân bón giả không chỉ gây ảnh hưởng tới kinh tế cho bà con nông dân mà còn gây tác hại cho cây trồng, tốn công sức của nông dân, làm rối loạn thị trường phân bón, ảnh hưởng đến thương hiệu các nhà sản xuất, kinh doanh phân bón khác.

Khi mua nhầm phân bón giả khiến mùa màng bị thất bát, nông dân sẽ mất niềm tin vào những nhãn hiệu phân bón này, chỉ còn biết nhắm mắt mua các loại phân bón ít tên tuổi hơn với hi vọng không phải 
mua nhầm phân bón giả.

Trong thực tế, các loại phân kali bị làm giả nhiều nhất. Đặc biệt, với các loại phân hỗn hợp NPK, rất khó có thể phân biệt hàng thật, giả bằng mắt thường mà cần qua các trung tâm phân tích, kiểm tra về hàm lượng…

Để đảm bảo an toàn, nông dân chỉ nên mua sản phẩm tại các đại lý phân phối chính thức, có uy tín, ghi chú về hàm lượng K2O có trong sản phẩm… Ngoài ra, nên yêu cầu phía bán đưa các hóa đơn chứng từ, giấy nhập khẩu (nếu là phân bón nhập khẩu) đầy đủ trước khi mua.

Riêng với sản phẩm phân bón hữu cơ Con Voi Bình Dương (thuộc Biwase), chúng tôi chọn giải pháp chống giả toàn diện và tem chống hàng giả điện tử SMS áp dụng công nghệ chống giả của Vina CHG để dán lên các sản phẩm chính hãng của công ty, giúp kẻ gian khó làm giả 
sản phẩm hơn.

Theo Ông Đỗ Minh Cường (phó giám đốc kinh doanh xí nghiệp xử lý chất thải, Công ty Cấp thoát nước – môi trường Bình Dương – Biwase)

[:-/] Nhập nhằng phân bón thật – giả, nông dân điêu đứng (Cafef.vn) Theo VTV – Ước tính, trung bình mỗi năm người nông dân gánh chịu thiệt hại hàng trăm tỉ đồng từ phân bón giả, kém chất lượng.

Tình trạng làm giả, làm nhái các loại vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu luôn có những diễn biến phức tạp, gây nhiều thiệt hại cho nhà nông.

Vụ việc hàng chục nghìn chai thuốc bảo vệ thực vật của Trung Quốc hết hạn sử dụng nhưng vẫn được “phù phép” để tiêu thụ trót lọt tại nhiều tỉnh, thành ở miền Tây là một ví dụ.

Thực tế trên cho thấy phân bón giả, kém chất lượng vẫn là vấn đề nhức nhối với cơ quan quản lý và khi nhắc đến tình trạng này, nhà nông nào cũng vô cùng lo lắng, bức xúc.

Tuy nhiên, để phân biệt đâu là phân bón thật, đâu là phân bón giả lại không phải dễ dàng.

50% số lượng thuốc trừ sâu
nhập về Việt Nam là từ Trung Quốc

KH.V /Lao động (Cafef.vn) – Số liệu thống kê cho thấy, mặt hàng thuốc trừ sâu và nguyên liệu, ước giá trị nhập khẩu trong tháng 5.2016 đạt 54 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm đạt 283 triệu USD, giảm 15,7% so với cùng kỳ năm 2015.


ảnh minh họa

Nguồn nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu chủ yếu là từ Trung Quốc. Mặc dù so với năm 2015, số lượng thuốc sâu nhập khẩu từ Trung Quốc về Việt Nam đã giảm tới 21,2%, nhưng số lượng thuốc sâu và nguyên liệu nhập khẩu từ nước này vẫn chiếm tới 49,3% tổng giá trị của mặt hàng này. Các thị trường có giá trị nhập khẩu năm 2016 tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2015 là Pháp (tăng 53,6%), Singapore (tăng 53,2%), và Đức (tăng 13,9%). Thị trường có sự sụt giảm mạnh nhất là Hàn Quốc so với cùng kỳ năm 2015, giá trị nhập khẩu của thị trường này giảm tới 57,7%.

Nếu 11 năm trước (năm 2005), nước ta mới chỉ nhập khoảng 20.000 tấn thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật thì đến năm 2012 đã nhập tới 55.000 tấn, tiêu tốn 704 triệu USD.

Năm 2013, lượng nhập khẩu đã nhảy vọt lên 112.000 tấn, kim ngạch 778 triệu USD. Đến năm 2014, Việt Nam cũng đã tốn tới 774 triệu USD để nhập thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng 3,3% so với năm 2013. Và năm 2015 được dự báo kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu sẽ còn tăng mạnh hơn các năm trước.

Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), hiện nay, Việt Nam nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ 15 thị trường trên thế giới.

Nguồn nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu chủ yếu là từ Trung Quốc chiếm tới 55% trong tổng kim ngạch. Nguồn cung lớn đứng thứ hai là Hàn Quốc. Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu từ các thị trường như: Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản, Đức, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan, Bỉ…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s