Khai thác khoáng sản, núi đồi tan hoang

Posted: May 30, 2016 in Uncategorized
Tags:

Đức Sơn & Anh Tuấn (ĐĐK) – Thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp, cá nhân đua nhau “xẻo thịt” núi rừng tại xã Thạch Khoán (huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ) để “moi” khoáng sản đem đi bán. Tình trạng khai thác diễn ra khá bát nháo, công khai nhưng có vẻ như chính quyền và ngành chức năng địa phương rất thờ ơ. Người dân chỉ còn biết bất lực nhìn núi đồi quê hương ngày càng tan hoang.

� Xem thêm: Ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản.

“Xẻo thịt” núi rừng tìm khoáng sản

Bao đời nay, khu vực Đỉnh Đa – Dốc Đỏ thuộc địa bàn xã Thạch Khoán vốn là vùng núi đồi trùng điệp với những vạt đồi rừng xanh bạt ngàn. Gần đây bỗng dưng rộ lên thông tin có khoáng sản nên nhiều tổ chức, cá nhân kéo nhau đến vùng này khảo sát. Người ta đã tự ý san ủi một con đường dài mấy cây số xuyên rừng lên tận đỉnh Đỉnh Đa – Dốc Đỏ. Chính nhờ con đường “chui” này, nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã đua nhau đưa máy móc lên rừng xúc đất tìm khoáng sản.

Để moi được khoáng sản ở tầng dưới, họ đã không ngần ngại chặt hạ hàng loạt cây xanh, dùng máy xúc bóc số lượng lớp đất đá bề mặt đi đổ nơi khác. Khi tìm thấy khoáng sản, họ lại xúc lên xe tải băng qua đường rừng về các điểm tập kết phía dưới bìa rừng. Từ đây quặng nguyên liệu được sơ chế rồi hợp thức hoá vận chuyển đi khắp nơi tiêu thụ. Theo tìm hiểu chúng tôi, được biết doanh nghiệp thường đứng ra thu mua là Công ty Thu Thịnh.

Hậu quả của việc ồ ạt khai thác khoáng sản trái phép là cả vùng rộng lớn núi rừng khu Đỉnh Đa – Dốc Đỏ bị phá nham nhở, tan hoang.

Ông Phùng Văn Việt- Chủ tịch UBND xã Thạch Khoán xác nhận, khu vực Đỉnh Đa – Dốc Đỏ là diện tích trồng cây lâm nghiệp của các hộ dân.

Còn theo thông tin từ Phòng TN&MT huyện Thanh Sơn cho biết, trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, Cty Thu Thịnh chỉ hoạt động kinh doanh buôn bán, không hề có bất cứ diện tích đất nào được cấp phép cả. Còn theo Phòng TN&MT huyện Thanh Sơn thì việc máy móc mở đường hay đào bới vận chuyển khoáng sản là có và không được sự cho phép của chính quyền địa phương.

Vấn đề đặt ra là, nếu hoạt động khai thác khoáng sản, tàn phá đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Sơn bị nghiêm cấm thì những các doanh nghiệp lấy đâu ra tài nguyên để kinh doanh?

Khi trao đổi với chúng tôi, một cán bộ Phòng TN&MT huyện Thanh Sơn hồn nhiên “phủi” trách nhiệm: Tài nguyên khoáng sản khi đã lên khỏi mặt đất rồi là thành hàng hóa, trách nhiệm không thuộc về Phòng TN&MT nữa (!)


Đồi rừng ở xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn bị “xẻo thịt” không thương tiếc.

Dự án trá hình?

Tương tự, trước đây hai bên Tỉnh lộ 316 chạy các xã Thạch Khoán, Giáp Lai của huyện Thanh Sơn là những đồi rừng xanh bát ngát. Đa phần là đất lâm nghiệp được giao khoán cho người dân để trồng rừng, phát triển sản xuất. Khi khảo sát nơi đây có khoáng sản, ngành chức năng cấp phép cho các doanh nghiệp khai thác.

Những cánh rừng bạt ngàn bị “xẻo thịt” không thương tiếc và những quả đồi đất lâm nghiệp trồng rừng sản xuất bỗng dưng biến mất. Họ đua nhau lập dự án, thậm chí có trường hợp còn lập dự án “biến tướng” để khai thác khoáng sản.

Trường hợp Cty cổ phần đầu tư và thương mại Huy Hoàng (Cty Huy Hoàng) là một ví dụ. Theo Quyết định số 986/QĐ-UBND ngày 14/5/2015, UBND tỉnh Phú Thọ cấp cho Cty Huy Hoàng thuê để đầu tư xây dựng khu chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung kết hợp với trồng rừng tại xã Thạch Khoán.

Theo quyết định này, Cty Huy Hoàng được thuê 9,9 ha đất lâm nghiệp với thời hạn 49 năm tại khu vực thôn Đồng Bung để thực hiện dự án. Trong các báo cáo trình ngành chức năng, Công ty Huy Hoàng nhấn mạnh, dự án được thực hiện sẽ tập trung các mục tiêu bảo tồn đa dạng khu rừng trồng địa phương, góp phần phát triển chăn nuôi… Quy mô dự án sẽ trồng 7ha rừng nguyên liệu, chăn nuôi 3.000 con lợn lai tạo đặc biệt, 5000 con gà cựa, 500 con dê….

Được biết, trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Cty Huy Hoàng ghi rõ, ngành nghề kinh doanh chính là khai thác đá, cát sỏi, cao lanh, bán buôn kim loại, khai thác quặng sắt, sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét…

Không hiểu, khi chấp thuận dự án và giao đất cho Cty Huy Hoàng, các cơ quan chức năng liên quan ở tỉnh Phú Thọ có nghiên cứu kỹ lĩnh vực kinh doanh của Cty này hay không mà nhanh chóng đồng thuận cho dự án được thực hiện. 9,9 ha đất lâm nghiệp nhanh chóng được ký biên bản xác nhận thực địa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Khi có “lá bùa” trong tay, thay vì làm dự án trồng rừng, chăn nuôi, Cty Huy Hoàng đã ồ ạt đưa máy móc san ủi mặt bằng và khai thác, tập kết một số lượng lớn cao lanh tại khu vực.

Mặc dù, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ lúc bấy giờ là ông Chu Ngọc Anh đã chỉ đạo rõ ràng: “Đầu tư dự án theo đúng nội dung quyết định chủ trương đầu tư, chỉ đưa dự án vào hoạt động khi đã chấp hành đầy đủ các thủ tục theo quy định”. Tuy nhiên có vẻ như, doanh nghiệp đã phớt lờ những chỉ đạo của lãnh đạo UBND tỉnh Phú Thọ.

Thực tế quan sát tại khu vực Đồng Bung, xã Thạch Khoán, chúng tôi không hề thấy có bất cứ một dấu hiệu nào của việc chủ đầu tư thực hiện dự án trồng rừng và chăn nuôi. Thay vào đó, là một “đại công trường” khai thác với những máy móc, những điểm tập kết khoáng sản chất cao như núi và những quả đồi đã bị múc tan hoang.

Trao đổi về vấn đề trên, cả chính quyền xã Thạch Khoán và huyện Thanh Sơn đều xác nhận Cty Huy Hoàng được cho thuê đất để thực hiện dự án trồng rừng, chăn nuôi và số khoảng sản tập kết tại Đồng Bung là của chính Cty này.

Ông Phùng Văn Việt- Chủ tịch UBND xã Thạch Khoán xác nhận, nguồn gốc đất của dự án này thuộc các hộ dân trồng rừng sản xuất. Khi doanh nghiệp triển khai dự án có phát hiện ra cao lanh, bên công an cũng có vào lập biên bản yêu cầu dừng việc khai thác. Phía UBND xã chỉ nhận được mỗi quyết định chuyển mục đích sử dụng đất, còn lại không có thêm hồ sơ, thủ tục, văn bản gì.

Còn theo Trưởng phòng TN&MT huyện Thanh Sơn Nguyễn Hữu Tám  thì trong quá trình san lấp mặt bằng để thực hiện dự án, Cty Huy Hoàng phát hiện có quặng nên đã báo cáo UBND tỉnh đề xuất Bộ TN&MT xin được phép tận thu. Nghe nói đã được đồng ý, chứ giấy phép tận thu có hay chưa thì Phòng TN&MT huyện không được biết.

Chỉ thị của UBND huyện Thanh Sơn về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn nêu rõ, đối với những địa bàn có nguy cơ xảy ra hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển kinh doanh khoáng sản trái phép, chủ tịch UBND xã, thị trấn thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật. Lãnh đạo địa phương phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo huyện nếu để xảy ra vi phạm về lĩnh vực khoáng sản trên địa bàn mình quản lý.

Vậy để xảy ra tình trạng khai phá đồi rừng, khai thác khoáng sản ồ ạt tại xã Thạch Khoán như hiện nay, liệu lãnh đạo UBND huyện Thanh Sơn có tổ chức kiểm tra, truy trách nhiệm của UBND xã Thạch Khoán và các đơn vị liên quan hay chưa?

Ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản

Khánh Phương (Xây dựng) – Mặc dầu ngành khoáng sản có những đóng góp rất quan trọng vào phát triển kinh tế của đất nước, nhưng hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh.

Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ… Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc.

Một số thí dụ điển hình minh chứng cho ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản được nêu dưới đây.

Vấn đề ô nhiễm môi trường của ngành than

Vấn đề bức xúc nhất về góc độ bảo vệ môi trường là đất đá thải. Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 – 3 mét khối nước thải mỏ. Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu mét khối đất đá, khoảng 70 triệu mét khối nước thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả…


Ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác than (ảnh minh họa)

Đất đá thải loại trong khai thác khoáng sản cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến tác động cộng hưởng về phát thải bụi từ các mỏ, gây suy giảm môi trường không khí do nhiễm bụi ở các khu dân cư ở trong vùng khai thác. Trên các mỏ than thường có mặt với hàm lượng cao các nguyên tố Sc, Ti, Mn… Các khoáng vật sulphua có trong than còn chứa Zn, Cd, Hg… làm cho bụi mỏ trở nên độc hại với sức khỏe con người.

Vấn đề ô nhiễm môi trường của mỏ kim loại

Với các mỏ kim loại, tác động rõ nét nhất là tàn phá mặt đất, ảnh hưởng lớn đến rừng và thảm thực vật và chất thải có khối lượng rất lớn, chứa nhiều thành phần độc hại, nhất là các mỏ kim loại màu (chì, titan, thiếc, đồng, cromit, wolfram, kẽm…) .

Thảm họa môi trường do khai thác titan ven biển

Theo Trung tâm tư vấn và công nghệ môi trường – Tổng cục Môi trường năm 2014, Bình Thuận có trữ lượng gần 600 triệu tấn titan, chiếm 92% trữ lượng cả nước, phân bổ trong tầng cát xám và cát đỏ trên diện tích 800 km vuông ven biển. Trên địa bàn tỉnh có đến 67 dự án khai thác titan ở đây, nhưng hiện mới chỉ có 3 dự án được cấp phép khai thác.

Mặc dù vậy, mức độ tàn phá môi trường đã vô cùng lớn. Do sa khoáng titan nằm sâu hàng chục mét, có nơi hàng trăm mét dưới mặt đất, nhưng các công ty khai thác chỉ có công cụ khai thác thô sơ, sau khi khai thác không hoàn thổ nên mặt đất bị cày nát, loang lổ hố. Những đồi cát xanh ngày nào trở thành vùng đất chết không cây, không con.

Các doanh nghiệp vì lợi nhuận, dùng nước biển lọc quặng thô nên về lâu dài vùng khai thác sẽ bị nhiễm mặn không thể trồng trọt. Khó khăn hơn cho người dân nơi đây là nguồn nước giếng bị ô nhiễm không thể sử dụng trong sinh hoạt. Trong báo cáo của tỉnh cũng ghi nhận, khu vực khai thác titan có tác động xấu đến môi trường, cảnh quan, tổn thương sinh vật, ô nhiễm đất, nguồn nước và không khí, gây mất ổn định cuộc sống người dân xung quanh, nhất là các khu vực xã Hòa Thắng (Bắc Bình), xã Thuận Quý, xã Tân Thành (Hàm Thuận Nam)… Sâu xa hơn là sự biến mất của một vùng đồi vốn làm nơi chắn gió, bảo vệ hoa màu rất tốt cho nông dân. Ngoài ô nhiễm do hóa chất, nhiễm mặn khai thác Titan còn gây ô nhiễm do phóng xạ.

Nguy cơ môi trường do khai thác, chế biến bauxit

Chưa bàn việc tác động rất xấu đến các hệ sinh thái tự nhiên, dân cư bản địa và hiệu quả thực sự về kinh tế, ô nhiễm môi trường do khai thác bauxit ở Tây Nguyên là vấn đề rất khó kiểm soát và có thể gây tác động nghiêm trọng đến nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai. Theo PGS.TS Nguyễn Đình Hòe (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam): muốn sản xuất 1 tấn alumina, phải khai thác ít nhất 2 tấn quặng bauxite và thải ra đến 1,5 tấn bùn đỏ.

Theo báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Bauxit Nhân Cơ, nước thải và bùn thải có khối lượng tới 11 triệu m3/năm. Bùn đỏ (Red Mud) là chất thải không thể tránh được của khâu chế biến bauxite thành alumina, gồm các thành phần không thể hoà tan, trơ, khá bền vững trong điện phong hoá như Hematit, Natrisilicoaluminate, Canxititanat, Monohydrate nhôm, Trihydrate nhôm và đặc biệt là chứa xút – một hoá chất độc hại dùng để chế biến alumina từ bauxit v.v..

Ở Tây Nguyên, nếu chế biến bauxit thành alumina, bắt buộc phải xây dựng các hồ chứa bùn đỏ tại chỗ. Chỉ riêng dự án Nhân Cơ, theo báo cáo ĐTM, dung tích hồ thải bùn đỏ sau 15 năm lên tới 8,7 triệu m3. Tương tự, dự án Tân Rai có lượng bùn đỏ thải ra môi trường khoảng 0,8 triệu m3/năm, tổng lượng bùn đỏ phải tích trên cao nguyên cả đời dự án Tân Rai 80-90 triệu m3. Nhưng tổng dung tích của hồ chứa của dự án chỉ có 20,25 triệu m3, số còn lại sẽ được chứa trong các hồ mới sau này sẽ xây dựng thêm ở đâu đó.

Đáy hồ theo thiết kế sẽ được lót một lớp đất sét và một lớp vải địa kỹ thuật, hồ được chia thành một số khoang và có xây dựng hệ thống hào ngăn nước mưa chảy vào hồ. Phần bùn khô lắng dần sẽ được phủ một lớp vải địa kỹ thuật chống thấm, rồi phủ một lớp đất dày 1m.

Có thể hy vọng rằng trong điều kiện bình thường hồ sẽ được bảo vệ và tu bổ tốt, đảm bảo an toàn trong suốt giai đoạn sản xuất. Tuy nhiên nguy cơ hồ chứa bùn đỏ bị xói lở, tràn bùn đỏ vào sông suối chung quanh và đổ về sông Đồng Nai – nguồn nước cấp cho sinh hoạt chủ yếu của trên 12 triệu dân là rất lớn, nhất là trong điều kiện mưa lũ bất thường do biến đổi khí hậu. Ngoài ra sau khi kết thúc dự án các hồ bùn đỏ được chôn vĩnh viễn trên cao nguyên sẽ tiếp tục phát sinh các vấn đề môi trường.

PGS.TS. Lê Trình (Viện Khoa học Môi trường và Phát triển)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s