TS Trần Đình Thiên: “Chúng ta toàn tháo gỡ, mà tháo gỡ thì chẳng giải quyết được gì”

Posted: June 3, 2016 in Uncategorized
Tags:

Kim Yến /BizLIVE (Cafef.vn) – “Tình hình môi trường kinh doanh ngày càng dở đi, chẳng cải thiện được bao nhiêu. Chúng ta hò hét, báo chí cũng nói rất nhiều, thỉnh thoảng lại ‘mị dân’ một vài câu, nhưng chẳng giải quyết được gì. Cứ vướng đâu gỡ đó thì không thể thay đổi toàn bộ cơ chế. Cách gỡ này chỉ giữ cho bộ máy tồn tại thôi, đến lúc nào đó sẽ bổ nhào”

� Xem thêm: Thủ tướng: Tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn + 75% khoản nợ trong nước của Chính phủ sẽ phải đáo hạn trong 3 năm tới + Nhiều khoản thu ngân sách đang đà giảm + Ngân hàng nhà nước mua 7 tỷ USD để tăng dự trữ ngoại hối hay trả nợ nước ngoài?

Ông Trần Đình Thiên đã phát biểu như thế trong tọa đàm “Các giải pháp về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” tại TP.HCM sáng 3/6/2016.

“Đầu tiên tôi muốn nói là cách tiếp cận của chính phủ. Cứ sửa sang lặt vặt thế này chẳng giải quyết được gì. Phải thay đổi toàn bộ hệ thống tiếp cận, thực sự đổi mới mô hình tăng trưởng đi chứ không phải tháo gỡ. Chính phủ đã yếu, thuế má chẳng được bao nhiêu, thu phí rất nhiều chỉ làm cho doanh nghiệp yếu đi. Cách làm chính sách, chương trình phát triển quốc gia phải thay đổi.

Chính phủ phải xác định rõ ràng trong chương trình năm nay phải có những việc chính gì? Ai không làm được phải ra đi. Cách tư duy của chúng ta dàn trải, manh mún, mỗi người ‘chấm mút’ một tí, chẳng giải quyết được gì. Ngược lại, về phía doanh nghiệp cũng thế, phải tạo áp lực buộc chính phủ thay đổi chứ không tư duy theo kiểu ‘xin-cho’, đừng kể lể từng chính sách để tháo gỡ sẽ chẳng bao giờ lớn lên được”. Ông Thiên nói.

Cũng theo ông Trần Đình Thiên, chúng ta đã ký toàn những hiệp định “oách nhất” thế giới, với hy vọng tin vào những phân tích cơ hội mang về cho Việt Nam rất lớn. Nhưng thực tế thách thức quá lớn mà ta chưa vượt lên được, mà cơ hội thì chưa hề tận dụng được, doanh nghiệp đã yếu càng yếu đi rất nhiều. Vậy ta phải đặt lại câu hỏi mang hội nhập về làm gì? Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi tại sao Việt Nam làm không được? Chúng ta không kỳ thị doanh nghiệp FDI, nhưng tại sao chúng ta không tạo ra những cơ chế chính sách cho doanh nghiệp trong nước được hưởng nhiều hơn? Phải đặt vấn đề rất nghiêm túc, làm thế nào cho doanh nghiệp Việt Nam vượt lên được là trọng tâm của chính phủ trong thời gian tới, nếu không chúng ta sẽ không tiến được đâu

Đánh giá về những chuyển động của chính phủ, ông Trần Đình Thiên cũng đưa ra những tín hiệu về tầm nhìn mới của Đảng và chính phủ.

Ông Thiên cho rằng tín hiệu đáng mừng nhất là Đảng đã coi khu vực tư nhân là động lực quan trọng. Gần đây, những chuyển động như chính phủ đưa ra những tuyên bố hướng đến doanh nghiệp tư nhân, tháo gỡ cho doanh nghiệp tư nhân, với những tuyên ngôn rất rõ ràng, thể hiện nhận thức đối xử với doanh nghiệp tư nhân không thể như trước đây. Từ cơ sở đó đi đến tuyên ngôn then chốt không hình sự hóa các vụ án kinh tế, thuế phí giảm đi.

Việc đặt vấn đề khởi nghiệp hàm ý gắn với đổi mới sáng tạo, gắn với chương trình hành động quốc gia có tính cổ động cao hơn nhiều. TP.HCM đang quyết tâm trở thành thành phố khởi nghiệp, nếu TP.HCM bay lên được thì đất nước này sẽ bay lên được. “Muốn thế, khái niệm ‘thành phố khởi nghiệp’ phải đẩy lên một nội hàm mới, buộc thành phố có những giải pháp mới khác hẳn xưa. Đó là cách đặt vấn đề của tôi. Hỗ trợ khởi nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ là cách thiết thực nhất để biến TP.HCM là thành phố khởi nghiệp”, ông Thiên chia sẻ.

Việc Đảng nhận thức ra vai trò của doanh nghiệp chính là vì tình hình thực tiễn buộc phải nghĩ khác, nếu không nghĩ khác là đất nước này chết, doanh nghiệp chết, ngân sách chết. Đây là thời cơ rất lớn để chúng ta đề xuất đổi mới chính sách. Trong nước thì yếu, nhưng áp lực đổi mới chính sách rất lớn. Thách thức lớn nhất với Việt Nam là hàng rào kỹ thuật chứ không phải hàng rào thuế quan. Tình hình kinh tế thế giới và khu vực đang có những chuyển biến đặc biệt gây khó khăn cho Việt Nam, những va chấn rất mạnh từ các cường quốc sẽ tác động mạnh đến Việt Nam. Khi Trung Quốc thay đổi mô hình tăng trưởng để giữ đồng nhân dân tệ gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế của họ. Hàng hóa, vốn liếng, lao động của chúng ta chẳng có gì để bảo vệ, phải nhìn thấy áp lực từ bên ngoài, nếu cơn bão quét qua chúng ta sẽ đổ nhào.

Bàn về chính sách cho doanh nghiệp, theo TS. Trần Đình Thiên, có hai tuyến để thảo luận. Những giải pháp tháo gỡ vẫn phải làm để doanh nghiệp có niềm tin. Nhưng vế thứ hai phải chú ý tập trung những giải pháp tái cơ cấu để thay đổi nguồn lực kinh tế tập trung vào doanh nghiệp tư nhân. “Rất mừng cả Thủ Tướng và các Bộ trưởng đều thấy chi phí về vốn của doanh nghiệp quá lớn, doanh nghiệp Việt Nam chịu thế nào được? Đã yếu rồi, chi phí về vốn quá nặng, nhưng vẫn chưa hạ được lãi suất xuống, chi phí liên quan đến giao thông vận tải quá nhiều. Chính phủ đang ráo riết công khai minh bạch các dự án BOT để hạn chế tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Đó là chương trình của năm nay và những năm tới. Tôi tin tình thế đang bắt buộc để chúng ta phải có những hành động mạnh mẽ”.

Có những cái khó dài hạn, trung hạn. Mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long ảnh hưởng thế nào đến doanh nghiệp? Chúng ta chưa tính đến cái khó lớn này. Hạn mặn không thể tư duy theo kiểu “ơn trời” được. Những giải pháp cơ bản cho chuyển dịch cơ cấu như thế nào vẫn chưa rõ ràng, đừng vội thở phào khi mưa đã tới. Tập trung toàn lực cho doanh nghiệp tư nhân phải đúng hướng mới tạo được sức bật cho doanh nghiệp. “Tôi xin nhắc lại một lần nữa, nếu doanh nghiệp TP.HCM bật lên được thì đất nước sẽ bật lên được, vì đây là trung tâm của kinh tế đất nước”, ông Thiên khẳng định.

[:-/] Thủ tướng: Tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn (TBKTSG Online) – Đánh giá kết quả phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian qua, Thủ tướng nhìn nhận tình hình vẫn còn nhiều khó khăn: sức ép lạm phát còn lớn, có khả năng ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô; tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn, tăng trưởng của cả 3 khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều thấp hơn so với cùng kỳ; lĩnh vực văn hóa, xã hội còn có nhiều vấn đề bức xúc.

Đây là nhận xét của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Phiên họp thường kỳ tháng 5-2016 thảo luận tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm vào ngày 02/6 tại Hà Nội.

Trước tình hình đó, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần quyết liệt thực hiện nhiệm vụ năm 2016, không thay đổi mục tiêu và đề nghị các thành viên Chính phủ tập trung thảo luận, làm rõ các hạn chế, khó khăn để đề ra các biện pháp tháo gỡ, khắc phục nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăng trưởng.

75% khoản nợ trong nước của Chính phủ
sẽ phải đáo hạn trong 3 năm tới

An Ngọc/Trí thức trẻ (Cafef.vn) – Trên 75% nợ trong nước sẽ đáo hạn trong ba năm tới, trong khi chi trả lãi hiện nay chiếm 8% tổng thu của Chính phủ cho thấy gánh nặng trả nợ ngày càng tăng lên.

Đó là thông tin được đưa ra tại buổi đối thoại cấp cao về cải cách chi tiêu công của Nhóm đối tác tài chính công, được thực hiện bởi Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) trong sáng ngày 3/6.

Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, thời gian qua Việt Nam đã đạt thành tích quan trọng, tăng trưởng kinh tế đạt 6,68% là mức cao nhất trong 5 năm gần đây, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp và xuất khẩu tăng.

Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do, hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và việc Việt Nam đàm phán và ký kết TPP, Hiệp định Việt Nam – EU là nền tảng quan trọng Việt Nam tham gia vào sân chơi chung của khu vực và toàn cầu.

Tuy nhiên, sự phục hồi chậm kinh tế thế giới đã gây ra khó khăn cho Việt Nam. Đó là giá dầu vẫn duy trì mức thấp, thiên tai hạn hán ảnh hưởng quá trình phát triển. Quá trình tái cơ cấu kinh tế trong ba lĩnh vực đầu tư công, hệ thống ngân hàng và DNNN đặt ra nhiều thách thức.

“Khó khăn vĩ mô đặt ra nhiều thách thức cho cải cách tài chính công, làm gia tăng bội chi ngân sách và làm tăng tỷ lệ nợ công, tăng bội chi ngân sách Nhà nước ở cả trung ương và địa phương” – Bộ trưởng đánh giá.

Thực tế này cũng được ông Sebastian Eckardt, chuyên gia cấp cao Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra rằng dư nợ tăng do bội chi ngân sách tăng liên tục. Đáng chú ý, các khoản nợ liên quan đến khu vực ngân hàng và nợ của DNNN đang làm trầm trọng hơn và có nguy cơ dễ bị tổn thương với lộ trình nợ hiện nay.

Các khoản nợ cũng ngày càng phụ thuộc nhiều vào nợ trong nước. Mặc dù điều này làm giảm áp lực rủi ro tỷ giá, song lại làm tăng lãi suất bình quân và rút ngắn đáng kể kỳ hạn của nợ công. Điều này dẫn đến, chi trả lãi hiện nay chiếm tới 8% tổng thu của Chính phủ và trên 75% nợ trong nước sẽ đáo hạn trong ba năm tới.

Trong khi đó, cơ cấu chi đã thay đổi đáng kể theo hướng chi thường xuyên chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Cụ thể, chi đầu tư đã giảm nhưng chi trả lãi đang tăng lên; chi thường xuyên ngoài (không bao gồm chi trả lãi) tăng về tỷ trọng; chi lương tăng lên cả do yếu tố tăng biên chế và tăng lương.

Do đó, chuyên gia của WB cho rằng nếu không cải thiện tình trạng tài khóa hiện nay, lộ trình nợ sẽ sớm đưa Việt Nam rơi vào vùng rủi ro về áp lực nợ. Theo đó, cần có biện pháp để đảm bảo tài khóa bền vững; Tối ưu hóa chi phí và kỳ hạn nợ công; tăng cường nguồn thu và hành thu trên cơ sở ổn định và tăng dần tỷ lệ thu trên GDP; nâng cao hiệu suất chi tiêu trên cơ sở hạn chế và từng bước giảm tỷ lệ chi trên GDP.

Theo khuyến nghị của bà Victoria Kwakwa, Phó Chủ tịch phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới, tình hình tài khóa hiện nay cho thấy cần phải có kế hoạch củng cố tài khóa trong trung hạn, khi mà nợ công đang tăng lên cao. Với mục tiêu đảm bảo thâm hụt ngân sách, giảm xuống mức 4% trong năm tới thì cần phải có biện pháp quyết liệt để tăng thu ngân sách và hiệu quả chi tiêu.

Đồng quan điểm, Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng cho rằng việc cơ cấu lại ngân sách là cần thiết. Trong đó, cần thúc đẩy tăng trưởng nguồn thu nội địa, cơ cấu chi phù hợp, đảm bảo tỷ lệ chi thường xuyên, đầu tư và trả nợ, bội chi vào 4% GDP, đảm bảo an toàn cải thiện quốc gia.

Nhiều khoản thu ngân sách đang đà giảm

H.Vân /Báo hải quan (Cafef.vn) – Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng thu cân đối NSNN thực hiện 5 tháng đầu năm ước đạt 396,2 nghìn tỷ đồng, bằng 39,1% dự toán, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2015, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 2 năm gần đây.

Trong đó, thu nội địa đạt 321,2 nghìn tỷ đồng, bằng 40,9% dự toán, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2015, đạt thấp cả về tiến độ thực hiện dự toán và mức tăng trưởng so với cùng kỳ 2 năm gần đây.

Thu từ dầu thô tháng 5 ước tăng 450 tỷ đồng so với tháng 4, chủ yếu do giá thanh toán trong kỳ đạt 42 USD/thùng, tuy vẫn giảm 18 USD/thùng so với giá dự toán, nhưng đã tăng 3 USD/thùng so với tháng trước. Luỹ kế 5 tháng xấp xỉ 15,9 nghìn tỷ đồng, bằng 29,2% dự toán, giảm 48,1% so với cùng kỳ năm 2015. Sản lượng dầu thanh toán 5 tháng ước đạt 6,65 triệu tấn, bằng 47,5% kế hoạch năm; giá dầu thanh toán bình quân 5 tháng khoảng 38,1 USD/thùng, giảm 21,9 USD/thùng so giá tính dự toán.

Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 58,7 nghìn tỷ đồng, bằng 34,1% dự toán, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2015.

Tổng chi NSNN 5 tháng bằng 36,6% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 68 nghìn tỷ đồng, chi trả nợ và viện trợ xấp xỉ 64,55 nghìn tỷ đồng; chi phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 332 nghìn tỷ đồng.

Riêng về thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản, ước đến hết tháng 5 vốn giải ngân cho các dự án là 67,1 nghìn tỷ đồng, đạt 26,6% dự toán (cùng kỳ năm 2015 đạt 35,3% kế hoạch); vốn trái phiếu Chính phủ giải ngân ước đạt khoảng 21% kế hoạch (cùng kỳ năm 2015 đạt 27,8% kế hoạch).

Bội chi NSNN 5 tháng ước đạt 70 nghìn tỷ đồng, bằng 27,6% dự toán năm.

Đến hết ngày 31-5-2016, đã thực hiện phát hành được 147.044,27 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bằng 66,84% kế hoạch, đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi ngân sách theo dự toán.

Tuy các khoản thu không được như mong đợi, song phát biểu tại Hội nghị trực tuyến về công tác thu NSNN 2016 được tổ chức mới đây, lãnh đạo Bộ Tài chính cho rằng: Chúng ta còn dư địa cho nguồn thu thông qua các biện pháp như chống chuyển giá, chống thất thu, nợ đọng,…

Tuy nhiên, về lâu dài, các đơn vị như Thuế, Hải quan cần song hành tháo gỡ khó khăn cho DN để DN phát triển tạo nguồn thu chứ không được gạn, ép thu. Bên cạnh đó, các đơn vị cũng cần chú trọng quản lý thu đúng, đủ, kịp thời vào NSNN cổ tức được chia cho phần vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước do bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu; đôn đốc các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thực hiện đầy đủ, kịp thời vào NSNN lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật, không được giữ lại để bổ sung vốn điều lệ.

Ngoài ra, ngành Tài chính tiếp tục tập trung thanh tra, kiểm tra thuế, rà soát, tập trung vào các đối tượng có rủi ro cao về thu ngân sách như: Dầu khí, xăng dầu, hàng không, ngân hàng, điện lực, thiết bị viễn thông, ô tô, dược phẩm, kinh doanh bất động sản, DN kinh doanh nhà hàng, khách sạn…; DN có vốn liên kết, DN chuyển giá, DN FDI… Đặc biệt là kiểm soát hoàn thuế GTGT chặt chẽ.

Trong động thái mới đây, Bộ Tài chính vừa có công văn gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị yêu cầu Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển VN (BIDV) và Ngân hàng TMCP Công thương (VietinBank) phải chi trả cổ tức năm 2015, bổ sung cân đối ngân sách năm 2016.

Theo Nghị quyết số 99/2015/QH13, Quốc hội giao dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2016 có một khoản là 55.000 tỉ đồng. Khoản này bao gồm lợi nhuận còn lại và cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại các công ty CP có vốn góp do bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu và số lợi nhuận còn lại sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước sở hữu 100% vốn.

Đây là một trong những biện pháp góp phần thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào ngân sách trong bối cảnh thu ngân sách gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn phải đảm bảo các nhiệm vụ chi theo dự toán.

Ngân hàng nhà nước mua 7 tỷ USD
để tăng dự trữ ngoại hối hay trả nợ nước ngoài?

Lê Dung /SBTN (VNTB) – Trung tâm nghiên cứu BIDV vừa công bố việc từ đầu năm 2016 đến nay, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã mua từ thị trường trong nước khoảng 7 tỷ USD để “tăng quỹ dự trữ ngoại hối”.


Ảnh minh hoạ

Trung tâm nghiên cứu BIDV cũng cho biết Ngân hàng nhà nước tiếp tục bơm VND ra thị trường qua kênh ngoại hối với lượng bơm đạt hơn 72,000 tỷ trong tháng 4 và tháng 5/2016.

Như vậy, một khả năng có thể là từ đầu năm 2016 đến nay, Ngân hàng nhà nước đã phải tung ra thị trường một lượng tiền đồng khá lớn – lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng – để mua vào ngoại tệ. Lượng ngoại tệ được mua vào lại tập trung phần lớn ở các ngân hàng thương mại chứ không phải từ các nguồn trôi nổi tự do.

Chính lượng tiền này đồng mà Ngân hàng nhà nước tung ra đã khiến trong khoảng vài tháng qua xuất hiện tình trạng dư thừa tạm thời tiền đồng của các ngân hàng thương mại, do vậy nhiều ngân hàng đã phải tìm cách “đẩy” tiền ra kênh cho vay, bất kể rủi ro thường trực khó hoặc không thể thu hồi vốn.

Lượng tiền đồng mà Ngân hàng nhà nước tuôn ra thị trường cũng đang khiến bắt đầu xuất hiện một quan điểm “chấp nhận mức lạm phát khoảng 5% trong năm 2016”, nghĩa là cao hơn rất nhiều so với mức lạm phát báo cáo chỉ có 0.63% trong năm 2015.

Câu hỏi đặt ra là vì sao Ngân hàng nhà nước phải tung tiền đồng để “gom” USD trong thời gian qua? Nhằm tăng quỹ dự trữ ngoại hối hay còn mục đích gì khác?

Gần đây, có thông tin về quỹ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng nhà nước chỉ còn khoảng 30 tỷ USD, tức thấp hơn khá nhiều so với con số xấp xỉ 40 tỷ USD vào năm 2015 mà chính thống đốc Ngân hàng nhà nước lúc đó là Nguyễn Văn Bình đã “khoe”.

Có khả năng sự sụt giảm hàng chục tỷ USD từ quỹ dự trữ ngoại hối là để trả nợ nước ngoài.

Trong năm 2015, Việt Nam phải trả nợ cho các chủ nợ quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Á châu (ADB) và một số quốc gia như Nhật Bản… đến hơn 20 tỷ USD (chứ không phải chỉ khoảng 7 tỷ USD như con số báo cáo thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

Còn trong năm 2016, tuy chưa có con số cụ thể, nhưng mức trả nợ nước ngoài của Việt Nam cũng khó thấp hơn 20 tỷ USD.

Theo đó, nhu cầu trả nợ đến hạn của nước ngoài là tất yếu. Tuy nhiên Việt Nam không thể lấy một đồng tiền quá yếu là VND để trả nợ, mà phải quy đổi sang USD.

Vậy trong tình cảnh ngân sách gần như rỗng tuột, lấy đâu ra tiền đồng để mua vào USD?

Có lẽ đây mới là câu trả lời đơn giản nhất đối với Nhà nước Việt Nam: In tiền.

Trong thời gian qua, đã nổi lên hiện tượng nhiều cán bộ hưu trí được lãnh lương hưu bằng tiền mới cứng, toàn loại mệnh giá 500,000 đồng. Nhiều người đang tỏ ra nghi ngờ và lo ngại về việc Ngân hàng nhà nước cho in tiền quá nhiều sẽ dẫn đến mặt bằng giá sinh hoạt đội hẳn lên và làm cho đời sống người về hưu vốn đã khó khăn thì nay còn khó khăn hơn.

Nếu bài toán của nhà nước là in tiền ồ ạt và dùng loại tiền giấy có nội lực yếu ớt ấy đổi lấy ngoại tệ mạnh là đồng USD, sẽ chẳng mấy chốc lượng USD trong dân và tại các ngân hàng giảm mạnh, đẩy nhanh tình trạng khan hiếm USD và tất yếu làm tăng mạnh lạm phát.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s