Nhập siêu Trung Quốc tăng 160 lần: 15 năm bó tay?

Posted: June 8, 2016 in Uncategorized
Tags:

(VNN) Bài đã gỡ xuống – Trong 15 năm qua, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng hơn 160 lần. Hàng hóa Trung Quốc tràn lan ở Việt Nam, từ rau dưa, củ quả cho đến vải vóc, máy móc… Một bản kế hoạch đang được Chính phủ hoàn thiện để giải quyết vấn đề nhập siêu từ thị trường Trung Quốc. (đăng theo Xã Luận)

� Xem thêm: Nợ công lên hơn 2,6 triệu tỉ đồng, gần gấp đôi sau 5 năm.


Hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam

Xuất siêu EU, Hoa Kỳ không bù nổi nhập siêu Trung Quốc

Từ 2000 trở về trước, Việt Nam luôn xuất siêu sang Trung Quốc. Nhưng “gió đảo chiều” từ 2001 khi Việt Nam bắt đầu nhập siêu gần 200 triệu USD. Đến năm 2015, số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, nhập siêu từ Trung Quốc đã lên tới con số “khổng lồ” 32,4 tỷ USD. Việt Nam nhập từ thị trường này từ rau củ quả cho đến vải vóc nguyên liệu, máy móc, thiết bị, ô tô tải…

Trong vòng 15 năm, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng tới hơn 160 lần. Đã có rất nhiều cuộc họp bàn, nhiều giải pháp được đưa ra nhưng nhập siêu từ Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng qua hàng năm. Nỗ lực xuất siêu liên tục sang các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản cũng không thể bù đắp nổi mức nhập khẩu quá lớn từ Trung Quốc.

Trong các mặt hàng nhập khẩu, máy móc, thiết bị, phụ tùng “made in China” góp phần lớn vào mức nhập siêu “khủng” kể trên.

Theo Bộ Công Thương, năm 2015, các DN ở Việt Nam đã chi tới 9 tỷ USD để nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng từ Trung Quốc, chiếm tới hơn 18% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và 32,7% tổng kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam từ các quốc gia khác trên thế giới.

Nguyên nhân chính là nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam thường “mặn mà” trong việc nhập máy móc, nguyên vật liệu từ Trung Quốc. Bên cạnh đó, nhiều nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu tại các dự án quy mô lớn ở Việt Nam như nhiệt điện, khoáng sản, phân đạm và hóa chất đều sử dụng máy móc ’made in China”. Điều này khiến kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị từ Trung Quốc phục vụ những dự án này luôn lớn và không ngừng tăng lên.

Ngoài ra, mỗi năm Việt Nam cũng nhập tới hơn 5 tỷ USD vải vóc từ Trung Quốc, còn sắt thép cũng nhập tới hơn 4 tỷ USD.

Đặc biệt cùng với sự bùng nổ của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp điện thoại ở Việt Nam, nhóm hàng điện thoại và các loại linh kiện có mức tăng trưởng nhập khẩu “chóng mặt” trong 5 năm qua. Nếu như năm 2011, nhập khẩu mặt hàng này từ Trung Quốc chỉ là 1,7 tỷ USD, thì đến năm 2015 đã tăng gấp 4 lần, tới xấp xỉ 7 tỷ USD.

Nhập hàng Trung Quốc, rồi xuất khẩu hộ?

Giai đoạn 2016-2020, Bộ Công Thương dự báo nhập khẩu và nhập siêu từ Trung Quốc vẫn sẽ tăng trong 3 năm đầu và sẽ từng bước giảm dần trong các năm tiếp theo.

Hiện nay, Bộ Công Thương đang hoàn thiện Báo cáo “Tình hình quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc và vấn đề nhập siêu”. Sau khi báo cáo của Bộ Công Thương được các bộ ngành thảo luận, hoàn thiện, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành quyết định phê duyệt báo cáo này với những phần việc cụ thể giao cho các bộ, ngành, địa phương.


Nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng 160 lần chỉ trong vòng 15 năm

Theo TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển cho rằng: hạn chế nhập siêu với Trung Quốc là cần thiết. Hiện Việt Nam đã ký nhiều hiệp định với các nước, hoàn toàn có thể không phụ thuộc vào một thị trường. Vấn đề là ở khâu thực hiện.

Chuyên gia kinh tế – TS Bùi Trinh đánh giá, với nền kinh tế cơ bản là gia công mà các chính sách vẫn hướng vào công nghiệp như Việt Nam thì việc phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào và máy móc thiết bị là không thể tránh khỏi.

Với cấu trúc và định hướng kinh tế như hiện nay, nếu không nhập khẩu từ Trung Quốc thì cũng phải nhập từ một nước khác nếu muốn sản xuất.

“Dù nhập ở đâu mà không thay đổi toàn diện cấu trúc kinh tế thì cũng chỉ là anh làm công, dùng hàng nội cũng chỉ là dùng hàng nhập trá hình và xuất khẩu cũng chỉ là xuất khẩu hộ mà thôi”, TS Bùi Trinh nhấn mạnh.

Nghiên cứu về mức độ phụ thuộc thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc của các chuyên gia từ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho thất, Việt Nam đang phụ thuộc nhập khẩu từ Trung Quốc lớn nhất khu vực Đông Nam Á, nhất là với mặt hàng nông sản như cao su, cà phê, chè, gỗ, thủy hải sản, và ngũ cốc.

Điều quan trọng hơn được các tác giả chỉ ra là Việt Nam hầu như không điều chỉnh được nhiều về chỉ số phụ thuộc xuất khẩu với Trung Quốc trước những rủi ro xảy ra.

Nhóm tác giả chỉ ra, hầu hết các hiệp định thương mại tự do hiện nay đều quy định tỷ lệ xuất xứ hàng hóa từ 30% trở lên. Việc phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc sẽ hạn chế các DN Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi khi xuất khẩu vào các thị trường khác.

Trong số nhiều giải pháp đang được đưa ra bàn luận, Bộ Công Thương cũng “nhắm” đến nhóm hàng máy móc, thiết bị nhập từ Trung Quốc. Trước hết, Bộ Công Thương đề xuất từng bước không áp dụng hình thức tổng thầu EPC trong các dự án, đặc biệt là các dự án có sự tham gia của Trung Quốc. Điều này nhằm tách bạch việc thi công dự án với việc cung cấp thiết bị kém chất lượng cho các dự án do Trung Quốc thực hiện.

Đồng thời, hạn chế và tiến tới cấm nhập khẩu các loại máy móc thiết bị không đảm bảo chất lượng và tiêu hao nhiều năng lượng từ Trung Quốc để sử dụng trong các dự án do DN Trung Quốc làm tổng thầu EPC.

Nợ công lên hơn 2,6 triệu tỉ đồng, gần gấp đôi sau 5 năm

Tư Hoàng (TBKTSG) – Quy mô nợ công đang gia tăng nhanh, áp sát ngưỡng kiểm soát của Quốc hội. Đến cuối năm 2015, về số tuyệt đối, dư nợ công lên đến 2,608 triệu tỉ đồng, gấp 1,9 lần so với cuối năm 2011 (1,393 triệu tỉ đồng); tỷ lệ nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡng kiểm soát 65% của Quốc hội.


Nợ công tăng gần gấp đôi sau 5 năm. Ảnh: TL.

Đây là số liệu trong báo cáo “Đánh giá thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016-2020” do Trung tâm nghiên cứu BIDV công bố hôm nay, ngày 8-6.

Trong giai đoạn 2011-2015, nợ công tăng nhanh chóng ở mức 16,7%/năm.

Đáng lưu ý, quy mô nợ công thực tế có thể đã cao hơn so với mức công bố do cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế uy tín có sự khác biệt. Căn cứ theo tiêu chuẩn quốc tế, nhiều chuyên gia đưa ra ước tính và cho rằng tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đã vượt mức 100%.

Tuy nhiên, báo cáo cho rằng mức ngưỡng nợ công/GDP được Quốc hội đề ra là 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc vượt ngưỡng tối ưu có thể tiềm ẩn rủi ro.

Báo cáo cho biết, từ năm 2010, Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình nên nợ nước ngoài có mức độ ưu đãi giảm dần. Vì vậy, nợ công dịch chuyển sang nguồn vay trong nước, tăng từ 40% năm 2011 lên 57,1% năm 2015.

Cụ thể, về nợ nước ngoài: đạt bình quân 3 tỉ đô la Mỹ/năm, tương đương 11% tổng vốn đầu tư toàn xã hội hay 17% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Về nợ công trong nước, thực hiện chủ yếu qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP). Về quy mô, lượng phát hành giai đoạn 2011-2015 đã tăng gấp 2,5 lần giai đoạn 2006-2010. Về kỳ hạn, 3 năm đầu giai đoạn, TPCP kỳ hạn ngắn (1-3 năm) chiếm khoảng 77% khối lượng phát hành hàng năm.

Hệ quả là, từ năm 2014, một lượng lớn TPCP đến hạn thanh toán và Chính phủ đang phải liên tục phát hành TPCP mới do NSNN không thể đáp ứng.

Vì vậy, báo cáo của BIDV khuyến nghị, nhằm tránh rủi ro trên, Quốc hội đưa ra quy định về kỳ hạn TPCP là trên 5 năm vào năm 2015, theo đó, tỷ trọng TPCP kỳ hạn dài đã tăng lên 46%.

Báo cáo cảnh báo, việc sử dụng nợ công còn bất cập.

Chẳng hạn, hiệu quả sử dụng không cao do đầu tư dàn trải, nhất là đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), chỉ số ICOR (về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 lên đến 6,96 và sau 5 năm, vẫn ở mức 6,92 vào giai đoạn 2011-2014, tức đầu tư gần 7 đồng mới tạo ra 1 đồng sản lượng. Chỉ số này chỉ đứng sau Ấn Độ là 7,31 tại châu Á.

Một phần đáng kể của nợ công được sử dụng để trả nợ thay cho đầu tư phát triển. Tỷ lệ trả nợ trong kỳ/dư nợ vay của Chính phủ và khoản vay được Chính phủ bảo lãnh ở mức khoảng 14,2% năm 2014 (số liệu mới nhất được Bộ Tài chính công bố) và lên đến 16% năm 2015 theo ước tính của WB. Việc dành đến 14-16% dư nợ công trong kỳ để trả nợ gây hạn chế đến đầu tư phát triển và chi để tăng năng suất lao động, giáo dục, y tế và các lĩnh vực thiết yếu khác.

Cơ cấu chi ngân sách không bền vững, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nợ công. Trong giai đoạn, chi ngân sách chủ yếu là chi thường xuyên với mức tăng trưởng là 18,44%/năm. Ngược lại, chi đầu tư phát triển có xu hướng giảm, nhất là từ năm 2013 đến nay, chỉ ở mức 4,8%/năm.

Báo cáo cho rằng, các tổ chức quốc tế và trong nước đánh giá, khả năng vỡ nợ của Việt Nam là khá thấp. Tuy nhiên, trên thực tế, nợ công vẫn đang là vấn đề cấp bách.

Thứ nhất, chỉ tiêu nợ phải trả (nợ gốc và lãi) có nguy cơ tiến sát vượt ngưỡng cảnh báo. Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn nêu trên, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn/thu ngân sách nhà nước (NSNN) đã tăng lên 22,3% (ngưỡng an toàn 25%).

Thứ hai, nghĩa vụ trả nợ tăng nhanh trong khi nguồn trả nợ công không bền vững. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ/thu NSNN tăng lên 38% vào năm 2014 và 45% năm 2015. Hệ quả là, tình trạng vay để trả nợ gốc ngày càng tăng, lên đến 80.000 tỉ đồng năm 2014 và 150.000 tỉ đồng năm 2015. Tuy nhiên, khả năng gia tăng thu ngân sách/GDP giảm mạnh, cụ thể năm 2011 là 25,9% xuống 22,1% năm 2015 và dự kiến tiếp tục giảm.

Thứ ba, tác động tiêu cực của nợ công với nền kinh tế. Các khoản lãi và một phần nợ gốc phải trả trong ngắn hạn đang ngày càng tăng cao, gây sức ép lên cân bằng NSNN. Do đó, Chính phủ đang phải liên tục phát hành TPCP để bù đắp thâm hụt NSNN. Hệ quả là, quy mô nợ công tăng theo tần suất và quy mô phát hành TPCP.

Ngoài ra, lãi suất bị đẩy lên cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp, từ đó làm giảm nguồn thu của NSNN để thanh toán các khoản vay.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s