Nhóm lợi ích “bẻ ghi”, bóp méo chính sách để trục lợi

Posted: June 8, 2016 in Uncategorized
Tags:

Lê Thọ Bình (VietTimes) – Thực trạng “bẻ ghi”, bóp méo các chủ trương, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước để trục lợi cho ngành, địa phương, nhóm lợi ích của mình đang có nguy cơ ngày càng gia tăng, nguyên Phó Ban Tổ chức T.Ư Nguyễn Đình Hương, PGS-TS Lê Quốc Lý… bức xúc cảnh báo.

* Mr Trần Hữu Dũng: – Con đường đến “xã hội chủ nghĩa” đã bị “bẻ ghi” chạy vào khu rừng tư bản chủ nghĩa hoang dã, và trước mặt là vực thẳm!

� Xem thêm: Cái giá của việc chậm trễ cải cách nền kinh tế.

TS Lê Hồng Sơn, nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra Văn bản QPPL (Bộ Tư pháp) coi đây là vấn nạn trên “thảm” dưới “đinh” và ông gọi đó là hiện tượng “lưu manh hóa” trong một bộ phận CBCC thoái hóa biến chất.

Trên “thảm” dưới “đinh”

Tại Hội thảo “Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: tầm nhìn và hành động” do Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông phát triển tổ chức mới đây tại Hà Nội, ông Lê Hồng Sơn, nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cho rằng, chủ trương, chính sách của Đảng và hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước thì rất tốt, như những tấm “thảm nhung” mời gọi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển kinh tế của đất nước, nhưng khi triển khai thì ở một số bộ, ngành, địa phương lại cố tình “rải đinh” để trục lợi cho “nhóm lợi ích”của mình.

Thực ra không phải đến bây giờ TS Lê Hồng Sơn mới lên tiếng về căn bệnh “thâm căn cố đế” này. Còn nhớ tại kỳ họp cuối cùng của QH khóa XIII, ông Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của QH, cho rằng “Những chủ trương, chính sách tốt đẹp, thông thoáng của Đảng và Nhà nước ta đang bị khâu thực hiện vô hiệu hóa. Nhiều nơi làm khó các nhà đầu tư như cắt điện, cắt nước, dựng rào chắn cổng; một số người thi hành công vụ vòi vĩnh, nhũng nhiễu trắng trợn, đòi tiền lót tay, tiền bôi trơn… làm doanh nghiệp khốn đốn, doanh nhân nản lòng. Có Đại biểu QH phải thốt lên đất lành chim đậu, nhưng chim chưa kịp đậu đã nhậu hết chim. Mời gọi các nhà đầu tư nhưng trên rải “thảm”, dưới rải “đinh”. Các nhà đầu tư tuy đi trên thảm nhưng vẫn nhức nhối vì hàng đinh ở dưới”.

Để dẫn chứng thực trạng trên “thảm”, dưới “đinh”, cựu Cục trưởng Cục Kiểm tra Văn bản QPPL Lê Hồng Sơn nêu: “Cuối năm 2015, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành 02 Quyết định (4088/2015/QĐ-UBND và 3625/QĐ-UBND) đặt ra một loạt các điều kiện, tiêu chí đối với các tàu thuyền kinh doanh du lịch trên Vịnh Hạ Long- Bái Tử Long: rút ngắn niên hạn sử dụng các phương tiện thủy 05 năm-10 năm. Quy định về điều kiện phòng cháy, chữa cháy đối với tàu lưu trú (hệ thống chữa cháy tự động hoặc bán tự động bằng nước cho các phòng ngủ của tàu); phải có thiết bị tự động báo cháy ở tất cả các buồng của tàu. Như vậy, phải có thêm bể chứa nước trên tàu, hệ thống dẫn nước và điều này không thể thực hiện được với các tàu đang hoạt động…

Đây là quy định bức tử các doanh nghiệp đang kinh doanh hoạt động du lịch, dịch vụ trên địa bàn, đe dọa hơn 1000 lao động sẽ mất việc làm; tạo điều kiện, sân chơi cho các đại gia; vi phạm hàng loạt các Luật: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật phòng cháy chữa cháy, Luật Du lịch, Luật giao thông đường thủy nội địa, Bộ Luật Dân sự về thẩm quyền điều kiện kinh doanh, phòng cháy, chữa cháy, niên hạn sử dụng phương tiện thủy. Cũng có thể nói, vi phạm Điều 14, Điều 33 Hiến pháp 2013”.

Ông Sơn còn dẫn chứng hàng loạt các quy định của lãnh đạo một số địa phương tạo sân chơi bất bình đẳng, gây khó cho các doanh nghiệp ngoại tỉnh như chuyện “bia tỉnh ta” của Hà Tĩnh, “xi măng tỉnh ta” của Quảng Nam.

Còn nhớ trước đây tại diễn đàn Quốc hội cuối năm 2015 ông Nguyễn Khắc Tâm (Đoàn đại biểu Sóc Trăng) từng nói: “Một cái lắc đầu của ông chủ tịch tỉnh, một cái xua tay của ông giám đốc, thậm chí sự vòi vĩnh của một anh công chức hành chính quèn cũng có thể tước đoạt đi cơ hội làm ăn của doanh nghiệp, của người dân”.

Hình thành những “nhóm lợi ích” để trục lợi

Theo các chuyên gia, điều đáng lo ngại là thực trạng này không chỉ diễn ra ở một vài bộ, ngành, địa phương, mà nó đã lan rộng, có sự cấu kết ở nhiều lĩnh vực, từ cấp cao đến cấp thấp tạo thành những nhóm lợi ích để đục khoét nhà nước, trục lợi cho nhóm của mình.

Nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức T.Ư Nguyễn Đình Hương vạch rõ, “lợi ích nhóm” thực ra là sự câu kết của những cán bộ đương chức thoái hoá, biến chất với những kẻ lợi dụng những người này để có được những chính sách có lợi cho mình. Những bộ phận này sử dụng quyền lực của mình để mưu lợi riêng. Khi có sự hội tụ lợi ích giữa các nhóm có tính thể chế và những nhóm hợp tác thì lập tức một liên minh được hình thành, tạo thành những cụm chính sách, những chùm lợi ích xoay quanh một chính sách mà trong đó các cơ quan hành chính và các nhóm công dân riêng biệt phụ thuộc vào nhau. Các vành đai lợi ích được khoanh vùng, có hàng loạt các vành đai cùng tồn tại tất yếu dẫn đến việc lợi ích công cộng bị xé nhỏ ra.

Còn PGS TS Lê Quốc Lý, Phó giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh lại coi tập hợp của những cá nhân thoái hóa biến chất này là “nhóm lợi ích” trục lợi. “Bản chất đây là một nhóm nhỏ có quyền lực và vị thế nhất định cấu kết với nhau nhằm tác động lên các cơ quan nhà nước để có được các cơ chế, chính sách, pháp luật … có lợi cho mình. Đó có thể là vị thế độc quyền, là các quyền tiếp cận tín dụng, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tiếp cận các hợp đồng của Nhà nước… để mưu cầu lợi ích cho các thành viên trong nhóm, nhưng lợi ích này đi ngược với lợi ích quốc gia, ảnh hưởng không tốt đến lợi ích chính đáng của đại đa số người dân.

Vì thế theo ông Lý, có thể nói chúng là một cấu trúc được vận hành theo kiểu “mafia”, tức là có sự bắt tay trong liên kết hai yếu tố mạnh nhất là tài chính và quyền lực. Trong đó, tài chính như là mũi giáo để tấn công, chiếm đoạt, còn quyền lực như là cái mộc để che chắn, chống đỡ, ngăn cản sự thực thi pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích mà họ chiếm được một cách bất chính”.

Không phải ngẫu nhiên mà Trong báo cáo khai mạc Hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, lãng phí; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; phong cách quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân; lối sống xa hoa, hưởng lạc… Trong những biểu hiện đó, cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận xã hội quan tâm nhiều nhất, bức xúc nhất là tình trạng tham nhũng, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm… ở một bộ phận đảng viên có chức, có quyền”.

“Nhổ đinh” cách nào?

TS Lê Hồng Sơn đã nêu ra hướng xử lý “nhổ” các loại “đinh”, đó là trong quá trình soạn thảo, xây dựng các dự thảo luật cần nghiên cứu, khảo sát mang tính tổng thể; lấy ý kiến của các đối tượng chịu tác động trực tiếp của nội dung dự thảo luật; phát huy cơ chế đa ngành, huy động trí tuệ tập thể, chống đơn tuyến, lợi ích nhóm, lợi ích ngành.

Cần xác định và xử lý trách nhiệm của cơ quan, người ban hành văn bản: xử lý tổ chức, cá nhân ban hành văn bản sai trái; phát huy cơ chế hậu kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các văn bản trái pháp luật; rà soát, kịp thời bãi bỏ những văn bản, quy định trái với các quy định mới hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội. Đặc biệt là cần phát huy vai trò, trách nhiệm trong tham gia phản biện, đóng góp công sức vào việc phát hiện xử lý, khắc phục “nhổ các loại đinh” của các tổ chức xã hội dân sự và báo chí.

Còn PGS TS Lê Quốc Lý yêu cầu: “Cần đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa các hoạt động của các bộ máy công quyền. Bởi lẽ, nếu trong hoạt động của bộ máy công quyền còn nhiều vùng tối, không rõ ràng, thì các “nhóm lợi ích trục lợi” còn có cơ hội hình thành. Kiểm tra thường xuyên, đặc biệt là phải tăng cường kiểm tra chéo các hoạt động công vụ nhằm ngăn chặn khả năng hình thành “lợi ích nhóm”.

“Quyền hạn phải gắn liền với trách nhiệm một cách rõ ràng, minh bạch, không để trình trạng “cha chung không ai khóc”. Chúng ta lâu nay xây dựng xã hội mà ai cũng là chủ nhưng không ai chịu trách nhiệm. Cơ chế bất cập có khi tạo ra tình trạng lãnh đạo quyền hành thì to, nhưng lại hầu như không phải chịu trách nhiệm trước việc làm của mình”, PGS – TS Lê Quốc Lý nói.

Cái giá của việc chậm trễ cải cách nền kinh tế

Nhàn Đàm (MTG) – Về mặt tài chính, Việt Nam đang ở trong một tình trạng không lấy gì làm dễ chịu. Trước hết là vấn đề nợ công, trong đó nợ công quốc gia của Việt Nam đã sắp chạm ngưỡng cho phép là 65% GDP trong khi con ngựa bất kham này vẫn chưa có dấu hiệu giảm tốc hay dừng lại.

Dù tiếng trống cải cách đã được chính thức gióng lên được hơn một tháng, với những nỗ lực và cam kết kiên quyết của thủ tướng trong hoạt động thúc đẩy môi trường đầu tư, thì đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có những động thái mang tính bước ngoặt trong các vấn đề cải cách nền kinh tế đất nước.

Việc khá nhiều những mục tiêu mà cải cách kinh tế đặt ra đang có sự va chạm và xung đột với lợi ích của một số bộ ngành, địa phương đang có xu hướng cản trở quá trình cải cách này. Dĩ nhiên, dục tốc thì bất đạt, chúng ta không được phép vội vàng nhất là trong một vấn đề có tầm quan trọng lớn như thế này với tương lai đất nước, nhưng thực tế là Việt Nam đang đứng ở sát chân tường, và cái giá của việc chậm trễ cải cách nền kinh tế sẽ vô cùng lớn.

Về lý thuyết, các cuộc cải cách nhất là về kinh tế thường được xem là những sự kiện mang tính tích cực đối với tương lai một quốc gia, tuy nhiên trên thực tế thì điều kiện dẫn tới các cuộc cải cách kinh tế luôn có tính hai mặt.

Chỉ khi nào tình trạng hiện tại không thể tồn tại lâu hơn mà không đem lại những rủi ro lớn, thì các cuộc cải cách về kinh tế mới bắt đầu diễn ra. Vì thế, các quốc gia thường phải đối mặt với những hậu quả không lấy gì làm dễ chịu nếu như cuộc cải cách kinh tế của mình thất bại hoặc diễn ra chậm trễ hơn nhiều so với dự kiến. Việt Nam ở thời điểm hiện tại cũng đang ở trong tình trạng tương tự.

Dễ dàng trả lời câu hỏi rằng, Việt Nam sẽ đạt được những lợi ích gì nếu như cuộc cải cách kinh tế đang được chính phủ phát động hiện nay thành công?

Nếu các mục tiêu căn bản của quá trình cải cách mà thủ tướng đã đề xuất như đề án “Quốc gia khởi nghiệp”, đặt khu vực kinh tế tư nhân làm trụ cột và là động lực của tăng trưởng kinh tế, vv…vv được hoàn thành đúng kỳ hạn từ nay đến năm 2020 (thời hạn của dự án “Quốc gia khởi nghiệp”) và cho đến năm 2035 (thời hạn báo cáo phát triển kinh tế Việt Nam 2016-2035 kết thúc), thì Việt Nam sẽ có một nền kinh tế thuộc diện khá phát triển.

Nếu tất cả các mục tiêu của đề án cải cách kinh tế đều được hoàn tất, thì đến năm 2035 Việt Nam sẽ có thu nhập bình quân đầu người khoảng 7.000 USD/năm, với một nền kinh tế khá phát triển lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo và tuân theo các nguyên tắc kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên khó khăn hơn nếu chúng ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những hậu quả gì nếu quá trình cải cách kinh tế đang được phát động hiện nay diễn ra chậm trễ, hoặc tồi tệ hơn là thất bại.

Câu trả lời sẽ không lấy gì làm dễ chịu, khi mà một thực tế hiển nhiên là Việt Nam đã đứng ở chân tường rồi, các sức ép về kinh tế đang trở nên ngày càng khắc nghiệt hơn và chỉ có thể được giảm nhẹ bớt phần nào nếu quá trình cải cách diễn ra thành công và trong tương lai gần.

Hai sức ép lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay có thể sẽ bùng nổ nếu như cải cách kinh tế diễn ra chậm chạp, đó là sức ép về gánh nặng tài chính quốc gia, và sức ép về sự xâm lấn về mặt thị trường nội địa.

Về mặt tài chính, Việt Nam đang ở trong một tình trạng không lấy gì làm dễ chịu. Trước hết là vấn đề nợ công, trong đó nợ công quốc gia của Việt Nam đã sắp chạm ngưỡng cho phép là 65% GDP trong khi con ngựa bất kham này vẫn chưa có dấu hiệu giảm tốc hay dừng lại.

Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi tốc độ tăng trưởng của nợ công đang vượt xa mức tăng trưởng GDP trong nền kinh tế. Cụ thể, theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, thì tốc độ tăng nợ công của Việt Nam hiện nay đang quá nhanh, nợ công quốc gia tính đến năm 2015 đã tăng gấp đôi so với năm 2010, và sẽ tiếp tục tăng thêm gấp đôi trong vòng 10 năm tới.

Tổng nợ công của Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại là khoảng 2,7 triệu tỷ đồng. Việc nợ công tăng quá nhanh và vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đẩy nền kinh tế Việt Nam dần tiến đến nguy cơ vỡ nợ, tương tự như những gì Hy Lạp đã phải trải qua trong cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu.

Kể cả khi kịch bản xấu nhất là vỡ nợ không xảy ra, thì khối nợ công quá lớn này cũng đủ khả năng để đẩy nền kinh tế Việt Nam vào tình trạng mãi mãi không bao giờ lớn, do áp lực trả nợ quá lớn dẫn đến nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội sẽ ngày càng teo tóp lại.

Vấn đề sức ép tài chính còn trở nên nghiêm trọng hơn, khi hàng loạt các hiệp định thương mại mà Việt Nam vừa ký kết sẽ dẫn đến sự xáo trộn lớn trong vấn đề thu ngân sách quốc gia.

Từ nay đến năm 2018, phần lớn các hiệp định thương mại mà Việt Nam ký kết sẽ có hiệu lực, như TPP hay các đối tác thương mại ở khu vực ASEAN. Hầu hết các dòng thuế nhập khẩu sẽ được đưa về mức 0% và chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn thu từ các dòng thuế này

Theo thống kê của Tổng cục hải quan, chỉ trong 5 tháng đầu năm 2016 thu ngân sách của toàn ngành đã đạt 102.000 tỷ đồng, và tính tổng cộng thu cả năm thì nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu sẽ là một trong những nguồn thu trọng yếu của ngân sách nhà nước.

Mất đi một trong những nguồn thu quan trọng nhất, trong khi sức ép trả nợ và chi cho đầu tư phát triển ngày càng tăng lên, rõ ràng Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc cải cách nền kinh tế.

Quan trọng không kém, là việc xu hướng các nhà đầu tư nước ngoài xâm nhập và tạo dựng được chỗ đứng ngày càng lớn trong nền kinh tế Việt Nam, lấn át các doanh nghiệp nội địa.

Kể từ giai đoạn 2011-2015, khu vực kinh tế quốc doanh với đầu tàu là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có xu hướng giảm quy mô và thu nhỏ về phạm vi hoạt động trong nền kinh tế, thì lại là giai đoạn mà các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ngày càng bành trướng.

Tính đến cuối năm 2015 khối FDI đã chiếm tới 70% tổng xuất khẩu của Việt Nam. Nguy cơ phụ thuộc về kinh tế đã ở rất gần, khi mà trong suốt nhiều năm khối kinh tế tư nhân trong nước gặp nhiều khó khăn và không thể phát triển đã tạo ra cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng bành trướng về mặt thị phần.

Nói cách khác, cuộc cải cách kinh tế mà thủ tướng vừa phát động, đang là cơ hội cuối cùng để nền kinh tế Việt Nam có thể cứu vãn tình thế. Nếu cải cách kinh tế thành công, với sự chuyển dịch lớn lao về mô hình tăng trưởng trong đó khu vực tư nhân thế chỗ cho khu vực quốc doanh để trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo trong nền kinh tế, thì các nguy cơ về sức ép tài chính và nợ công cũng như nguy cơ đánh mất thị trường nội địa vào tay các nhà đầu tư nước ngoài mới có thể được giải quyết một cách dứt điểm.

Vì thế, vấn đề chính yếu hiện nay của chúng ta là phải tìm mọi cách thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế diễn ra càng nhanh càng tốt. Thời gian không còn nhiều, và mỗi sự chậm trễ là một nguy cơ phải trả bằng một cái giá rất đắt.

Dĩ nhiên là “dục tốc bất đạt”, nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục nhượng bộ các bộ ngành trong việc trì hoãn những cải cách quyết liệt, thì cái giá phải trả trong tương lai gần sẽ là rất lớn và không thể đong đếm nổi. Với tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chậm cải cách có nghĩa là chết.

Nhàn Đàm (bài viết có sử dụng một số thông tin từ CafeF, Cafebiz)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s