Xuất khẩu thủy sản gặp nguy vì mối lo hóa chất

Posted: June 14, 2016 in Uncategorized
Tags:

Vi Thế Đang Hội Nghề cá Việt Nam (BĐV) – Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam bị nhiều nước trả về đa số bởi phát hiện các tác nhân hóa học, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe NTD.

� Xem thêm: Điên đầu vì lo mất thị trường xuất khẩu thủy sản.


Thủy sản chứa kháng sinh ảnh hưởng tới sức khỏe nên bị khách hàng quốc tế trả về.

Tham gia diễn đàn về “Vấn đề VSATTP từ việc lạm dụng chất cấm trong sản xuất nông nghiệp” do Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam tổ chức hôm 8/6, ông Vi Thế Đang, Thư ký Ban phát triển thủy sản bền vững, Hội Nghề cá Việt Nam đã chứng minh những mối nguy về hóa học ảnh hưởng lớn tới thị trường và uy tín xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

“Những quốc gia nhập khẩu thủy sản khi phát hiện mối nguy hóa học thì hầu hết là tiêu hủy lô hàng tại chỗ và cấm nhập khẩu hàng của chủ lô hàng cho đến khi chủ lô hàng và cơ quan có thẩm quyền của quốc gia xuất khẩu có văn bản khẳng định đã tìm được nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Hơn nữa, mối nguy hóa học còn nguy hiểm hơn bởi tác hại của chúng thường là ảnh hưởng tới hệ thần kinh, suy gan, suy thận và rất nhiều trường hợp là gây ung thư”, ông Đang cho hay.

Ngoài tác nhân hóa học, tác nhân sinh học và vật lý cũng là những nguyên nhân khiến thực phẩm không đạt tiêu chuẩn an toàn đề xuất khẩu nhưng cách khắc phục đối với những lô hàng này đơn giản hơn.

Giai đoạn năm 2010-2015, theo thống kê từ các lô hàng xuất đi EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc cho thấy, có 323 lô hàng thủy sản xuất khẩu từ Việt Nam không đảm bảo các tiêu chuẩn ATTP. Trong đó, 204 lô hàng được xác định là có tác nhân gây nhiễm bởi mối nguy hóa học.

Đặc biệt, qua các nghiên cứu, đánh giá, trong các lô hàng không đạt chuẩn ATTP trên, lượng CAP, NTr, MG, Aflatoxin được xét nghiệm trong thủy sản đều không đạt chuẩn. Số lô hàng chứa các dư lượng này lên tới 138/204 lô. Những chỉ tiêu chất lượng này được xác định là do con người can thiệp vào trong quá trình nuôi thủy sản.

Đại diện Hội Nghề cá nhận xét, Việt Nam sử dụng kết quả của các nước quy định chỉ tiêu đưa vào danh mục hóa chất, kháng sinh cấm khi Việt Nam chưa có đánh giá nguy cơ là cần thiết.

Bên cạnh đó, việc quy định mức dư lượng giới hạn bằng “0” khi không kèm theo thiết bị và phương pháp phân tích dẫn tới sự không minh bạch và khó khăn cho sản xuất.

Những khó khăn của cơ sở sản xuất thuốc thú y, sản phẩm xử lý chất thải môi trường ở chỗ: Thuốc thú y cho ĐV trên cạn, thủy sản do Cục Thú y quản lý. Sản phẩm xử lý chất thải môi trường do Trung tâm 3K, Tổng cục Thủy sản quản lý. Cùng là hóa chất, kháng sinh nhưng thuốc thú y cho ĐV trên cạn cho phép dùng, thủy sản lại cấm dùng, nhưng Y tế sử dụng tự do.

Về việc xây dựng danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trên thế giới, đối với các quốc gia EU, Mỹ, Nhật Bản thì đánh giá nguy cơ và trình bày kết quả tại Ủy ban Codex, nếu được chấp nhận thì đưa vào Web-site của Codex để áp dụng thống nhất trên toàn thế giới; Trường hợp chưa được Codex chấp nhận thì công bố kết quả đánh giá nguy cơ được đăng tải trên Web-site của cơ quan công quyền về kiểm soát an toàn thực phẩm của quốc gian đó.

Đến thời điểm này chúng ta chưa tự tổ chức đánh giá nguy cơ về hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng mà thu thập danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng các quốc gia EU, Mỹ và những năm gần đây có thêm Nhật Bản. Những quốc gia này cấm chất nào chúng ta đưa vào danh sách cấm chất đó.

Hội nhập sâu nhưng chưa có kiểm soát

Ông Vi Thế Đang nêu kết luận, hiện nay Việt Nam đã ký 10 Hiệp định hội nhập sâu kinh tế Việt Nam với thế giới, điểm chung của 10 Hiệp định đối với thực phẩm nói chung, thủy sản nói riêng có thuận lợi song tồn tại không ít khó khăn.


Xuất khẩu mang giá trị cao nhưng không kiểm soát được kháng sinh trong thủy sản.

Về mặt thuận lợi: Rào cản hạn ngạch (còn gọi là quơta) được dỡ bỏ; Cùng một mặt hàng áp dụng một mức thuế rất thấp hoặc mức thuế bằng 0. Nhưng khó khăn ở chỗ, để xuất khẩu được thực phẩm nói chung, thủy sản nói riêng vào các quốc gia thành viên của Hiệp định chúng ta phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hiệp định SPS (Rào cản an toàn bệnh dịch động, thực vât và an toàn thực phẩm). Đây chính là thách thức lớn nhất cho hàng nông sản nói chung, thủy sản nói riêng của Việt Nam khi các hiệp định này hiệu lực

Việc kiểm soát an toàn thực phẩm nói chung, kiểm soát hóa chất, kháng sinh cấm và được phép sử dụng của Việt nam còn nhiều điểm khác biệt so với quy định của Hiệp định SPS của Tổ chức thương mại thế giới và khác biệt so với các quốc gia tiên tiến đồng thời cũng là những quốc gia ký Hiệp đinh hội nhập sâu với Viêt Nam.

Nếu chúng ta không nhanh chóng thay đổi thì đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ không tận dụng được cơ hội dành cho hàng thực phẩm nói chung, thủy sản nói riêng mà các hiệp định này mang lại cho Việt Nam.

 Hội Nghề cá đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên.

Thứ nhất, khuyến nghị đối với các cơ quan thẩm quyền về ban hành danh mục HC, KS cấm: Khi chưa có điều kiện đánh giá nguy cơ đối với HC, KS trong SX, KD thủy sản, Việt Nam nên dựa vào Danh mục HC, KS cấm của EU, Mỹ, Nhật Bản, Úc.

Đồng thời, về ban hành Danh mục  HC, KS yêu cầu có mức dư lượng tối đa chia làm 6 giải pháp.

Một là, căn cứ vào danh mục quy định mức dư lượng tối đa cho phép của CODEX, sau đó đến EU, Mỹ, Nhật Bản, Úc (chỉ với những chỉ tiêu HC, KS mà đang cho phép sử dụng ở Việt Nam).

Hai là, yêu cầu các cơ sở SX khi muốn đăng ký SX sản phẩm mới, phải có khảo nghiệm và đánh giá nguy cơ để đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Ba là, Bộ Y tế và Bộ NN&PTNT cần thống nhất mức dư lượng nêu trong2 danh mục: mức dư lượng tối đa cho phép trong thực phẩm (Bộ Y tế ban hành) và mức dư lượng tối đa cho phép trong sản xuất, kinh doanh, nuôi trồng, chế biến (Bộ NN & PTNT ban hành).

Bốn là, chỉ ban hành 01 DM được phép lưu hành nhưng quy định mức giới hạn tối đa cho phép (như quốc tế). Năm là, không gọi là Danh mục HC, KS hạn chế sử dụng (như quy định của Bộ NN&PTNT), mà nên ban hành “Quy định mức dư lượng tối đa cho phép đối với HC, KS” (đồng nhất với quy định của quốc tế).

Sáu là, việc lập danh mục HC, KS có mức dư lượng tối đa cho phép của Việt Nam, phải căn cứ vào DM thuốc thú y, sản phẩm xử lý cải tạo môi trường của Việt Nam, từ đó xem xét đánh giá nguy cơ đối với những HC, KS nào đã được sử dụng để đưa vào danh mục cấm/ có quy định mức dư lượng tối đa.

Thứ ba là khuyến nghị đối với Bộ NN & PTNT


Cán bộ nông nghiệp phải hướng dẫn giúp đỡ người nông dân
hiểu chất cấm, chất hạn chế và thực hiện đúng.

Một là, định kỳ hàng quý cập nhật về danh mục HC, KS cấm; danh mục HC, KS có mức dư lượng tối đa cho phép của Codex, Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc. Các danh mục này được đăng tải lên website của Bộ NN&PTNT và các cơ quan trực thuộc (Cục Thú y, Tổng cục Thủy sản, NAFIQAD).

Hai là, Phân công quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi sản xuất và giao 01 đầu mối chịu trách nhiệm chính.

Ví dụ: Chịu trách nhiệm kiểm soát: Tổng cục thuộc Bộ (bao gồm cơ quan về thú y, bảo vệ thực vật, quản lý chất lượng) hay Chịu trách nhiệm thực hiện: Tổng cục thuộc Bộ (bao gồm cơ quan về chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản).

Ba là, quy định và giao rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cập nhật, góp ý, phản biện,.. đối với các chỉ tiêu mới mà các nước/ tổ chức lấy ý kiến; và nghiên cứu, đánh giá nguy cơ, bằng chứng khoa học đối với các chỉ tiêu khi đưa vào danh mục HC, KS cấm/ có mức dư lượng tối đa cho phép.

Điên đầu vì lo mất thị trường xuất khẩu thủy sản

(LĐ) – Nhật Bản đã áp dụng kiểm tra 100% lô tôm của Việt Nam, trong khi EU đã có công văn cảnh báo Việt Nam chưa khắc phục được nạn lạm dụng hóa chất kháng sinh trong thủy sản. Nguy cơ đóng cửa với các thị trường này là có thật.

“Vua tôm” cũng điên đầu vì sợ mất thị trường

Được mệnh danh là “vua tôm”, song ông Lê Văn Quang,  Chủ tịch HĐQT, kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn thủy sản Minh Phú lại đang “vò đầu bứt tai” vì khách hàng dọa ngừng nhập khẩu.

“Đợt vừa rồi, tôi đi công tác tại Nhật Bản, gặp các khách hàng Nhật, họ nói không muốn mua tôm Việt Nam nữa, vì tình trạng tôm bơm chích tạp chất, cắm tăm tre, tăm dừa mà muốn chuyển sang mua tôm của Indonesia, Philippines dù giá cao hơn Việt Nam khoảng 2,5-3 USD/kg. Nhiều đối tác yêu cầu, nếu Minh Phú đảm bảo được 100% tôm không bị nhiễm tạp chất, kháng sinh, tăm tre thì họ sẽ mua, nhưng phải chứng minh được toàn bộ hệ thống quản lý phải giám sát từ người nuôi cho đến nhà máy”.

Chủ tịch Minh Phú cho hay, hiện Nhật vẫn nhập khẩu tôm của Việt Nam, nhưng yêu cầu kiểm tra 100% nên chi phí rất lớn, khiến giá thành xuất khẩu bị đội lên, kém cạnh tranh hơn so với các đối thủ. Trong khi đó, nuôi tôm sú ở nước ta chủ yếu là quảng canh, nên yêu cầu của đối tác là giám sát được 100% quy trình nuôi là rất khó.

“Để giám sát được 100%, mỗi ao nuôi, Công ty phải cử 2-3 người theo dõi cả quá trình, rất tốn kém. Theo tính toán của chúng tôi, chi phí tiền kiểm kháng sinh từ ao nuôi của người dân đến nhà máy lên đến 8.400 đồng/kg (khoảng 10%) khiến doanh nghiệp giảm sức cạnh tranh”.

Thực tế, không chỉ thị trường Nhật mà mới đây, EU cũng đã đưa ra những cảnh báo mới với thủy sản Việt . Cụ thể, tháng 5/2016, Tổng vụ Sức khỏe và An toàn thực phẩm (DG-SANTE), Ủy ban châu Âu (EC) đã có công thư gửi Cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản (Bộ NN&PTNT) phản ánh về biện pháp kiểm soát chất kháng sinh đối với sản phẩm thủy sản của Việt Nam vẫn chưa khắc phục hiệu quả, vấn nạn lạm dụng hóa chất kháng sinh trong sản xuất, kinh doanh thủy sản xuất khẩu còn phổ biến. Do vậy, các cơ sở chế biến thủy sản của Việt Nam sẽ bị EU đưa ra khỏi danh sách các cơ sở chế biến thủy sản được phép xuất khẩu vào EU trong trường hợp có lô hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường này bị cảnh báo hóa chất kháng sinh cấm quy định tại phụ lục 2, quy định EU số 37/2010.

Theo ông Nguyễn Như Tiệp, Cục trưởng Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản, nếu không nghiêm túc thực hiện các yêu cầu về kiểm soát dư lượng kháng sinh, cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản Việt  có nguy cơ bị đình chỉ xuất khẩu sang EU.

Phạt tù có khiến người nuôi biết sợ?

Có thể nói, kháng sinh là câu chuyện dai dẳng với thủy sản nước ta nhiều năm nay, nhưng chưa xử lý được triệt để. Ông Lê Văn Quang cho biết: “Về bơm chích tạp chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, tôi và nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh đã đấu tranh 20 năm mới được đưa vào Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ 1/7 tới. Hy vọng, tới đây, khi hành vi này bị xử lý hình sự thì tình trạng bơm chích tạp chất vào thủy sản sẽ giảm”.

Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Văn Việt, Chánh thanh tra Bộ NN&PTNT cho hay, việc kiểm soát kháng sinh phức tạp, khó khăn hơn nhiều kiểm soát chất salbutamol trong chăn nuôi. Tuy nhiên, việc khống chế tình trạng sử dụng trong chăn nuôi, thủy sản có thể thực hiện được. “Nếu chúng ta có thể khống chế được các công ty nhập kháng sinh về thì có thể cắt nguồn cung cấp cho trang trại và các cơ sở nuôi trồng thủy sản. Như vậy, việc lạm dụng kháng sinh sẽ giảm đi rất nhiều”, ông Việt nói.

Được biết, theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, hành vi sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản sẽ bị phạt tù đến 5 năm, phạt hành chính 200 triệu đồng. Các hành vi để lại hậu quả lớn hơn có thể bị phạt tiền tới 1 tỷ đồng, phạt tù 20 năm.

Bên cạnh quy định của pháp luật, thì ý thức con người là quan trọng hơn cả. Các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp và người nuôi nên bắt tay nuôi trồng, sản xuất theo mô hình chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, cùng sản xuất có trách nhiệm. Tất nhiên, để làm được điều này, ngoài giám sát lẫn nhau thì lợi ích cũng phải chia đều cho các bên tham gia, nếu không tình trạng vi phạm lại tái diễn.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s