Nợ công là bao nhiêu nếu cả Kiểm toán nhà nước cũng không biết?

Posted: June 18, 2016 in Uncategorized
Tags:

Lê Dung (SBTN) – Vừa hiện thêm một tin tức khiến lòng người bất an cực độ: ngay cả cơ quan Kiểm toán nhà nước cũng không thể xác định số nợ công và tỷ lệ nợ công của năm 2014 là bao nhiêu.

� Xem thêm: Việt Nam cần một thập kỷ đánh vật nợ xấu + Ngựa quen đường cũ, nợ xấu bắt đầu tăng trở lại.


Tổng kiểm toán Nhà nước Hồ Đức Phớc chỉ ra vô số
những sai sót từ lập dự toán đến, thu, chi… Hình Vneconomy

Từ 2014, khi xem xét báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2012, Tổng kiểm toán Nhà nước khi đó là ông Nguyễn Hữu Vạn cũng đã từng nêu thực tế: “Do đặc điểm tổ chức quản lý và công tác kế toán, lập báo cáo thông tin về nợ công phân tán, Kiểm toán Nhà nước không đủ cơ sở xác nhận số liệu nợ công năm 2012”.

Vô hình trung, toàn bộ các báo cáo về tỷ lệ nợ công/GDP vẫn “dưới ngưỡng nguy hiểm 65% GDP” của Chính phủ và Quốc hội đã chẳng còn chút ý nghĩa nào!

Nói cách khác, những báo cáo chủ yếu phát sinh vào thời chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ngập tràn sắc màu giả dối. Người ta có thể hình dung rằng nếu khi nói về nợ xấu, chính phủ này rốt cuộc đã phải thừa nhận tỷ lệ nợ xấu có thời điểm lên tới 17% tổng dư nợ chứ không phải chỉ có 3-4%, thì đối với tỷ lệ nợ công cũng hầu như tương tự.

Ngay cả đến giờ là lúc mà chính phủ của Nguyễn Xuân Phúc đã thay thế cho chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, nợ công vẫn được xác định trong báo cáo: “Về số tương đối, cuối năm 2015, nợ công/GDP ở mức 62.2%, áp sát ngưỡng kiểm soát 65% của Quốc hội”.

Thế nhưng chỉ mới vào tháng 5/2016, một chuyên gia kinh tế là Tiến Sĩ Lê Ðăng Doanh cho rằng nếu tính đủ các khoản nợ từ cấp xã đến nợ xây dựng cơ bản của các bộ ngành, địa phương, nợ của doanh nghiệp nhà nước thì nợ công của Việt Nam có lẽ lên đến 110-120% GDP, khoảng trên 4.5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 220 tỷ USD.

Thậm chí có những đánh giá không chính thức cho rằng tỷ lệ nợ công của Việt Nam đang vào khoảng 150% GDP, tức lên đến khoảng 300 tỷ USD, hoàn toàn có thể làm cho nền kinh tế Việt Nam lao vào vùng phá sản trong ít năm tới – không khác mấy trường hợp Argentina năm 2001.

Còn số nợ đến hạn phải trả thì sao?

Vẫn liên tục là những báo cáo bất nhất và có tính “chuyển tiếp” từ thời Thủ tướng Dũng sang thời Thủ tướng Phúc. Vào cuối năm 2015, báo cáo của chính phủ Nguyễn Tấn Dũnng vẫn cố trấn an dư luận rằng Việt Nam chỉ phải trả nợ nước ngoài khoảng 7 tỷ USD trong năm 2015. Tuy nhiên đến giờ thì khác hẳn: kế hoạch vay trả nợ năm 2016 vừa được ông Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt đã xác định số nợ nước ngoài phải trả trong năm 2015 lên đến 20 tỷ USD, còn riêng trong năm 2016 phải trả nợ nước ngoài là 12 tỷ USD.

Trong suốt giai đoạn hai chục năm từ 1994 đến 2014, Việt Nam đã vay mượn đến 80 tỷ USD vốn ODA, để kết quả cho vận mạng sinh học nợ công của dân chúng lên đến vài ngàn USD mỗi đầu người.

Cả hiện tại và tương lai đều bế tắc với các khoản nợ nước ngoài đang đến hạn và sẽ đến hạn. Ngay trước mắt, chính quyền đang tìm đủ mọi cách để đè đầu dân chúng thu thuế nhằm “bù đắp khó khăn ngân sách”, nhưng ai cũng hiểu trong đó có phần để trả nợ nước ngoài. Tình cảnh này vẫn đang xảy ra với mức độ ngày càng thảm thiết và thô bạo, bất chấp đời sống các tầng lớp công nhân, nông dân và cả tiểu thương trở nên khốn khó trong bối cảnh mặt bằng giá cả sinh hoạt cùng lạm phát tăng vọt.

Việt Nam cần một thập kỷ đánh vật nợ xấu

Minh Đức (VnEconomy) – Mới đây, khi được mời phản biện một đề tài nghiên cứu khoa học, có nội dung nợ xấu, một chuyên gia nói luôn bên lề với hội đồng bảo vệ: “Chúng ta có nghiên cứu bao nhiêu giải pháp thì cũng vậy. Xử lý nợ xấu thời gian qua bị “lỗi gen” rồi”.

“Khi đã bị “lỗi gen” thì sao xử lý triệt để được. Cắt cái u chỗ này thì nó lại mọc chỗ khác thôi”, chuyên gia trên nói thêm.


Đã 5 năm qua, kể từ khi nợ xấu được công bố rõ mức độ.
Lượng lớn đã được xử lý, nhưng mức độ lớn vẫn còn đó – Ảnh: ĐT.

Cỡ chục phần trăm?

Thực tế của cách nói hình ảnh trên không mới. Tất cả đều biết, nợ xấu đã được cắt sâu trên báo cáo các ngân hàng thương mại, nhưng lại “mọc” dồn sang Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Dù vậy, trong ba năm qua, một lượng rất lớn nợ xấu đã được xử lý. Từ trên 17% xác định lại vào tháng 9/2012, đến tháng 3/2016 chỉ còn 2,62%.

Theo Ngân hàng Nhà nước, một năm trở lại đây, tình trạng hai số liệu về nợ xấu đã không còn nhiều khác biệt: số các ngân hàng báo cáo và số liệu của cơ quan giám sát.

Nhưng, để nhận diện mức độ một cách xác thực, có lẽ vẫn phải tìm đến con số thứ hai bên cạnh mức 2,62% nói trên. Và con số thứ hai này có thể vẫn còn lên đến cỡ chục phần trăm?

Một tính toán đơn giản cho thấy, số nợ xấu còn nằm ở VAMC khoảng 220 nghìn tỷ đồng. Tổng dư nợ đến cuối tháng 3/2016 là 4,8 triệu tỷ đồng. Phần nợ xấu ở đây chiếm khoảng 4,6%. Cộng thêm con số 2,62% nói trên, tỷ lệ nợ xấu có thể tính tương đối được ở khoảng 7,2%.

Đó vẫn chưa phải là con số cuối cùng. Ẩn số hiện nay vẫn nằm trong lượng dư nợ lẽ ra đã là nợ xấu nhưng được cơ cấu lại mà không bị chuyển nhóm.

Quy mô dư nợ được cơ cấu lại nói trên, theo Quyết định 780 từ năm 2012, từng được đề cập tới khoảng 300 nghìn tỷ đồng. Chính sách cho cơ cấu lại mà không phải chuyển nhóm đã dừng, nhưng lượng được chuyển tiếp qua “ván cuối” trong Thông tư 09 vẫn là ẩn số.

Và không loại trừ một bộ phận nợ được cơ cấu lại mà không bị chuyển nhóm, trở thành nợ trung dài hạn đến nay chưa đến hạn để xác định cụ thể là nợ xấu hay không.

Vậy nên, ngay cả khi tính đến con số thứ hai, mức độ thực của nợ xấu vẫn chỉ là tương đối.

Sửa lại “lỗi gen”

Đã 5 năm qua, kể từ khi nợ xấu được công bố rõ mức độ. Lượng lớn đã được xử lý, nhưng mức độ lớn vẫn còn đó.

Ở yếu tố thời gian, không mới, nhưng vì sao đặt ra vấn đề nợ xấu lúc này?

Tại kỳ họp Quốc hội cuối 2015, cũng là điểm cuối (về mặt thời gian) đề án xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, không có chất vấn nào đặt ra với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Nhưng không vì vậy mà các yêu cầu đặt ra đã được xử lý rốt ráo.

Tháng 4/2016, qua phiên họp thường kỳ đầu tiên của Chính phủ mới, yêu cầu lại tiếp tục đặt ra. Theo đó, Việt Nam sẽ cần thêm 5 năm nữa để tiếp tục tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu.

Cụ thể, nghị quyết về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2016 nêu nhiệm vụ đối với Ngân hàng Nhà nước: đánh giá tình hình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2011-2015; xây dựng đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020.

Tức là, 5 năm qua vẫn chưa giải quyết được hết các nội dung trên. Việt Nam cần thêm 5 năm nữa (2016-2020) để xử lý. Tổng cộng, sẽ mất cả một thập kỷ để có thể hy vọng xử lý gọn vấn đề nợ xấu.

Vì sao phải kéo dài cả thập kỷ như vậy? Vì, theo góc nhìn của chuyên gia nói trên, giải pháp xử lý nợ xấu 5 năm qua và cho đến nay, cơ bản, bị “lỗi gen”.

Đó là phải theo nguyên tắc: xử lý nợ xấu không được dùng ngân sách Nhà nước. Nguồn tiền tự hệ thống ngân hàng xoay xở và đánh vật với nó.

Khả năng hệ thống tự xử lý có hạn, dù sử dụng nguồn trích lập dự phòng lớn trong những năm vừa qua. Lỗi gen ở đây là thiếu tiền, thiếu tiền để xử lý một cách thực chất, nên một lượng lớn vẫn đang gửi ở VAMC và lẩn khuất trong cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm.

Mua bằng tiền tươi?

Đặt ra vấn đề xử lý nợ xấu lúc này cũng để đi tìm câu trả lời: Ngân hàng Nhà nước sẽ xây dựng đề án “mới” như thế nào, nguồn tiền ở đâu để xử lý thực chất hơn nữa?

Thực chất cũng là điểm mà Chính phủ nhấn mạnh trong nghị quyết trên, cũng như tại buổi làm việc mới đây của Phó thủ tướng Vương Đình Huệ với Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước đang hướng đến các biện pháp mới: một là, thực hiện cơ chế mua bán nợ xấu theo giá thị trường; hai là, VAMC sẽ mua bằng tiền tươi thóc thật.

Tiền, một phần từ nguồn được cấp khá hạn chế của VAMC; một phần từ xoay vòng trong kinh doanh theo giá thị trường của đầu mối này; và một phần được gợi mở bằng quyết định mới đây của Ngân hàng Nhà nước, có yếu tố hợp sức, kêu gọi hợp sức từ bên ngoài.

Cũng không nhất thiết phải có hàng trăm nghìn tỷ đồng để mua nợ xấu, qua đó xử lý thực chất hơn như Chính phủ giao. Điểm gợi mở là VAMC mua bằng tiền tươi, trước mắt được xem là vốn mồi. Tiếp đó là hợp sức với bên ngoài để tạo tiền mua nợ xấu.

Nhưng đó là triển vọng của một quá trình, không thể đẩy mạnh ngay trong năm nay, vài năm tới. Nên nói cả thập kỷ chật vật xử lý nợ xấu là vậy.

Chỉ có một điểm được khẳng định lúc này: nợ xấu từ nay bắt buộc phải xử lý thực chất hẳn, không còn được ký gửi chỗ này chỗ kia để lẩn khuất hoặc không nhận diện trực diện đầy đủ.

Tất nhiên, về nguồn tiền, khi không được dùng ngân sách và cơ chế trên cần thời gian để có thể khuếch đại, thì các nhà băng vẫn phải tự lực hùn lại. Đó là cơ chế trích lập dự phòng rủi ro sẽ vẫn phải chặt chẽ và đầy đủ, bên cạnh sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước về việc phân chia lợi nhuận của mỗi thành viên.

Đây cũng là nguồn tiền tự thân và thực chất để xử lý một phần (sẽ đáng kể) nợ xấu một cách thực chất thời gian tới mà không “mọc” sang chỗ khác.

Ngựa quen đường cũ, nợ xấu bắt đầu tăng trở lại

Kim Tiền/Trí thức trẻ (Cafef.vn) 23/05/2016 – Vốn dĩ hoạt động cho vay và nợ xấu là hai mặt của một đồng xu. Nếu cho vay tăng trưởng “nóng” thì khả năng gia tăng nợ xấu càng cao và càng về sau các ngân hàng sẽ càng phải trả giá cho việc cho vay ồ ạt khi nợ xấu được tích tụ qua thời gian.

Theo số liệu về nợ xấu mới nhất mà Ngân hàng Nhà nước vừa công bố, tính đến cuối tháng 3, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD đã tăng lên 2,62% so với con số 2,55% vào cuối năm 2015.

Còn theo số liệu mà CafeF tổng hợp được từ 17 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý I/2016, với 11/17 ngân hàng có phần thuyết minh chi tiết về nợ xấu cho thấy, nợ xấu đã thực sự tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Nợ xấu tăng cả số tương đối và tuyệt đối

Những quý trước, mặc dù nợ xấu vẫn gia tăng xét về số tuyệt đối nhưng do tốc độ tăng trưởng cho vay tăng mạnh đột biến (có ngân hàng cho vay tăng trưởng 49%) nên tỷ lệ nợ xấu nhờ đó đã giảm về mặt kỹ thuật.

Song đến quý vừa qua, không những số nợ xấu tuyệt đối mà tỷ lệ nợ xấu cũng đã tăng trở lại. Bởi lẽ, vốn dĩ hoạt động cho vay và nợ xấu là hai mặt của một đồng xu. Nếu cho vay tăng trưởng “nóng” thì khả năng gia tăng nợ xấu càng cao và càng về sau các ngân hàng sẽ càng phải trả giá cho việc cho vay ồ ạt khi nợ xấu được tích tụ qua thời gian.

Kết quả báo cáo của các ngân hàng trong quý I đều cho thấy một bức tranh chung nợ xấu của hầu hết NH đều tăng cả số tương đối và tuyệt đối.

Nợ có khả năng mất vốn tăng vọt

BIDV vẫn đang là ngân hàng đứng đầu về tổng số nợ xấu với con số lên tới hơn 11 nghìn tỷ đồng, trong số này chiếm một nửa là nợ có khả năng mất vốn.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2016 của BIDV, tỷ lệ nợ xấu của đơn vị này ở mức 1,8%, cao hơn mức 1,67% hồi cuối năm 2015. Trong đó, đáng chú ý là nợ nghi ngờ tăng 879 tỷ đồng so với cuối năm ngoái lên mức 1.766 tỷ đồng, nợ có khả năng mất vốn tăng 465 tỷ đồng lên mức 5.565 tỷ đồng. Trong quý I, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của BIDV cũng tăng mạnh lên gần 2 nghìn tỷ đồng, gấp 2 lần so với cùng kỳ, cuối cùng đã bào mòn lớn kết quả lợi nhuận sau cùng, giảm 10% so với quý I năm trước.

Nguyên nhân chính là do ngân hàng đã phải tiếp tục gánh nợ sau khi nhận sáp nhập với ngân hàng MHB.

Tương tự, hai ông lớn ngân hàng còn lại, tỷ lệ nợ xấu có sự gia tăng trong đó nợ có khả năng mất vốn cũng ở mức cao. Tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank tăng lên 1,84% và trong gần 7.600 tỷ đồng nợ xấu có đến 77% thuộc nợ nhóm có khả năng mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu của VietinBank tính đến 31/03/2016 là 0,96%, trong số hơn 5,3 nghìn tỷ nợ xấu này thì cũng có quá nửa là nợ có khả năng mất vốn.

Trong khi đó, tăng trường tín dụng của cả 3 ngân hàng trên cũng chỉ đạt 4% so với cuối năm 2015, không phải là quá cao.

Trong nhóm các ngân hàng cổ phần, nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh ở ACB và Nam Á với tốc độ tăng trưởng đều trên 20% chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm.

Tổng số nợ xấu cuối quý I của Eximbank là 2.300 tỷ đồng, chiếm 2,78% tổng dư nợ cho vay, tăng so với mức 1,85% vào cuối năm 2015, trong đó nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn đều tăng vọt so với cuối năm.

Tỷ lệ nợ xấu cuối quý I/2016 của ACB vẫn ở mức 1,3%, nhưng nợ có khả năng mất vốn tăng 200 tỷ đồng so với cuối năm, lên mức 1.315 tỷ đồng, chiếm 70% nợ xấu.

Một số ngân hàng không công bố số liệu nợ xấu, tuy nhiên chi phí trích lập dự phòng rủi ro trong kỳ cũng tăng mạnh, như chi phí dự phòng của SHB trong kỳ tăng đột biến lên hơn 168 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ chỉ gần 8 tỷ đồng.

Trong thời gian vừa qua, đặc biệt năm 2015, với sự nỗ lực của VAMC và bản thân các TCTD ngoài việc bán nợ cho VAMC đã tự khắc phục và thu hồi các khoản nợ kéo tỷ lệ toàn ngành về mức dưới 3%. Tuy nhiên, một trong những cảnh báo gần đây, các ngân hàng đang đẩy mạnh cho vay, điều này có thể để lại những hệ lụy về sau, do tín dụng tăng nóng có thể khiến đẩy giá trị tài sản tăng theo kiểu bong bóng và cho vay tiêu dùng cũng nhảy vọt khiến nợ xấu gia tăng và có thể quay về vòng luẩn quẩn và nỗi ám ảnh nợ xấu như trước.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s