Dương Khiết Trì lại ‘thăm’ Việt Nam: Biến động nào sắp xảy ra?

Posted: June 27, 2016 in Uncategorized
Tags:

Lê Dung (SBTN) – Khoảng 2 tuần trước khi Tòa án quốc tế ra phán quyết về vụ Philippines kiện “đường lưỡi bò 9 đoạn” của Trung cộng, một nhân vật đặc biệt của Bắc kinh là Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì bất chợt được thông báo “sắp thăm Việt Nam”. Chuyến đến Hà Nội của Dương Khiết Trì sẽ kéo dài từ ngày 26 đến 28/6 nhằm “tăng cường trao đổi hợp tác song phương”.

� Xem thêm: Đàm phán về đường lưỡi bò là đầu hàng Trung Quốc + Anh rời EU: Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nặng từ… Trung Quốc.


Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì. Ảnh: Gov.cn

Sự kiện trên lại diễn ra ngay sau khi xảy ra “tai nạn” 2 máy bay SU và CASA của Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam đồng loạt rơi xuống biển, và Việt Nam trong lúc công khai việc mời Trung cộng tham gia tìm kiếm cứu nạn thì đã thẳng thừng từ chối thiện chí tham gia cùng mục đích của người Mỹ.

Rất thường là không có điềm lành trong chuyến đi Hà Nội của những nhân vật Trung cộng như Dương Khiết Trì.

Năm 2014, Dương Khiết Trì cũng có đến hai chuyến “Nam triều”, diễn ra chỉ cách nhau 4 tháng: Lần đầu vào lúc vừa xảy ra vụ giàn khoan Hải Dương 981 nhằm xoa dịu tâm lý bất an của giới lãnh đạo Việt Nam, còn lần sau lồng trong bối cảnh nội bộ giới lãnh đạo Việt Nam lại đang hiện ra những tín hiệu “cơm không lành canh không ngọt”.

Liên quan đến hai chuyến đi của Dương Khiết Trì đến Việt Nam vào năm 2014, đã dấy lên dư luận rằng nếu Bắc Kinh muốn câu chuyện ở Hà Nội vẫn nằm trong vòng quỹ đạo tương đối của họ, phái thân thiện Trung cộng ở Hà Nội chắc chắn sẽ nhận được hứa hẹn “tài trợ” của Dương Khiết Trì. Và cũng rất có thể, Bắc Kinh muốn Dương Khiết Trì vừa cân bằng vừa đối sánh với sự xuất hiện đồng thời của ba viên chức Hoa Kỳ về chính trị, thương mại và quân sự ở Hà Nội trong thời gian ngay trước đó.

So với năm 2014, rõ ràng là mối quan hệ Việt – Trung nhạt nhòa hơn vào năm 2016. Vào năm 2014, ngay trước chuyến đi Việt Nam của Dương Khiết Trì, đã có một chuyến thăm Bắc Kinh của 13 tướng lĩnh cấp cao thuộc bộ quốc phòng Việt Nam, do Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh dẫn đầu, và điều chua chát là theo truyền thông Trung cộng, mục đích chuyến đi của bộ trưởng Phùng Quang Thanh và các tướng lãnh là để “cầu hòa” với Trung cộng. Còn vào năm 2016, hầu hết nhận định của giới quan sát chính trị đều cho rằng Việt Nam đã quyết định ngả về Mỹ hơn sau sự kiện Tổng thống Obama quyết định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Bnam, đồng thời Mỹ có kế hoạch tham dự vào quân cảng Cam Ranh không chỉ với vai trò phụ.

Khoảng một tháng trước khi diễn ra phán quyết của Tòa án quốc tế về “đường lưỡi bỏ 9 đoạn”, Trung cộng sôi sục việc lôi kéo các nước đồng minh ủng hộ họ. Con số những quốc gia ủng hộ Trung cộng từ 9 nước vọt lên đến 50 nước – theo người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung cộng. Chỉ có điều Bắc Kinh không công bố là những nước nào.

Nhưng chắc chắn, Trung cộng nhắm đến Việt Nam như một trong những quốc gia trọng yếu nhất để lôi kéo vào quỹ đạo ùng hộ mình. Rất có thể đây là mục đích chính của chuyến đi của Dương Khiết Trì vào tháng Sáu này.

Nhưng mặt khác, chuyến đi của những quan chức cao cấp Trung cộng cũng thường gắn liền với động tác kích thích và có thể kích động tinh thần cho phe thân Trung tại Hà Nội. Do vậy, chuyến đi của Dương Khiết Trì cũng có thể phản ánh cục diện đấu đá nội bộ trong giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn kết thúc sau đại hội 12.

Xem thêm:

Đàm phán về đường lưỡi bò là đầu hàng Trung Quốc

Hồng Thủy (GDVN) – Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa các nước ven Biển Đông trong đó có Việt Nam không có bất cứ vùng “chồng lấn” nào với Trung Quốc.

Giáo sư David A. Welch, một chuyên gia về các vấn đề quốc tế từ Trường Balsillie, Đại học Waterloo ngày 24/6 bình luận trên The Diplomat về những gì Bắc Kinh mong muốn đạt được bằng cách đàm phán song phương trong giải quyết các tranh chấp hết sức phức tạp ở Biển Đông.

Tác giả không ngạc nhiên trước việc Bắc Kinh ra sức chối bỏ gay gắt vai trò và phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) trong vụ kiện của Philippines.

Hầu hết các nhà phân tích đồng ý rằng Philippines sẽ giành chiến thắng trong một số nội dung quan trọng, nếu không được tất cả thì cũng hủy bỏ được một số yêu sách hàng hải của Trung Quốc.

Vấn đề Giáo sư David A. Welch đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại thích đàm phán song phương đến vậy? Họ mong muốn hay sợ hãi điều gì? Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói gì về điều này trước dư luận thế giới?


Tàu Kiểm Ngư Việt Nam bị tàu tuần tra Trung Quốc đâm húc hung hãn
và nguy hiểm khi tuần tra và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan khỏi
vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam năm 2014. Ảnh: bluebird-electric.net.

Tiền đề Trung Quốc đặt ra cho “đàm phán song phương” đẩy mọi cuộc đàm phán vào bế tắc

Theo Giáo sư David A. Welch, lựa chọn “đàm phán song phương” của Trung Quốc trên Biển Đông là đặc biệt khó hiểu khi họ đặt ra tiền đề cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi ở Biển Đông từ thời cổ đại”.

Người viết xin nói rõ thêm, Trung Quốc buộc đối phương phải thừa nhận điều này, rồi mới có thể đàm phán gì thì đàm phán.

Dư luận rất dễ nhận thấy điều vô lý trong cái tiền đề này, bởi đàm phán là nghệ thuật tìm kiếm phương án các bên liên quan cùng chấp nhận được, không có bên nào là “chiến thắng tuyệt đối” trong các cuộc đàm phán.

Giáo sư David A. Welch đặt câu hỏi, nếu Trung Quốc khăng khăng (đòi các bên thừa nhận) cái gọi là “chủ quyền không tranh cãi ở Biển Đông” thì còn gì để đàm phán nữa?

Bởi lẽ theo người viết, thừa nhận điều vô lý này tức là các bên chấp nhận hai tay dâng Biển Đông cho Trung Quốc, từ vị trí chủ nhân của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), nếu thừa nhận điều này thì các bên không chỉ tự hủy bỏ quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của mình, mà còn biến mình từ chủ nhân thành kẻ cướp đối với Trung Quốc.

Nếu đúng như các nhà phân tích nhận xét, Bắc Kinh đang tìm cách thổi bùng chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong nước, lý do chính để Trung Quốc cố gắng làm suy yếu vai trò pháp lý và phán quyết của PCA, thì khi đàm phán càng không thể có chuyện Bắc Kinh sẽ nhượng bộ. Bởi “nhượng bộ” sẽ gây ra phản ứng vô cùng dữ dội trong nước, theo David A. Welch.

Tuy nhiên người viết cho rằng, việc PCA hủy bỏ đường lưỡi bò có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng. Riêng đường lưỡi bò là thứ không thể đàm phán, bởi nó được vẽ ra một cách vô căn cứ, vô luật pháp, bành trướng và phi lý hết mức.

Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa các nước ven Biển Đông trong đó có Việt Nam không có bất cứ vùng “chồng lấn” nào với Trung Quốc, vì đường lưỡi bò là một sản phẩm tưởng tượng.

Bởi vậy, giả sử trong trường hợp Trung Quốc có rút đường lưỡi bò thì đó cũng là cử chỉ đáng hoan nghênh của một nước lớn bắt đầu hiểu ra luật pháp quốc tế, bắt đầu hiểu UNCLOS 1982, tuyệt nhiên không thể coi đó là một “nhượng bộ” để đòi các bên liên quan “nhượng bộ” theo nguyên tắc có đi có lại.

Vùng chồng lấn ở Biển Đông chỉ có thể xuất hiện trong trường hợp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước ven Biển Đông được xác lập một cách hòa bình, hợp pháp theo đúng quy định của UNCLOS 1982 có chỗ đè lên nhau.

Không thể có vùng chồng lấn với cái gọi là đường 9 đoạn, đường chữ U hay đường lưỡi bò, không thể có cái gọi là “quyền lịch sử”, “vùng đánh cá truyền thống” ở đây.

Trung Quốc đánh giá quá thấp Việt Nam, Philippiné, Malaysia, Brunei và Indonesia

Giáo sư David A. Welch nhận định, dư luận tin rằng Trung Quốc muốn đàm phán song phương ở Biển Đông (với các tranh chấp đa phương) là muốn “bẻ từng chiếc đũa”, bắt nạt, bắt các nước nhỏ phải phục tùng.

Nhưng đó là điều kỳ lạ nếu Bắc Kinh thực sự nghĩ rằng, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei (và theo người viết có cả Indonesia) sẵn sàng ngồi vào bàn đàm phán chỉ để chấp nhận các điều khoản đầu hàng.

Riêng Indonesia và Việt Nam đã khẳng định rất rõ, không có cái gọi là vùng chồng lấn nào với Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, Indonesia trên Biển Đông.

Phản ứng của Việt Nam rõ nét nhất trong khủng hoảng giàn khoan 981 năm 2014, còn lập trường này của Indonesia được thể hiện rõ trong tuyên bố của Ngoại trưởng nước này tuần qua, cũng như việc Tổng thống Joko Wiododo lên chiến hạm họp bàn chống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế ở Natuna.

Càng gần thời điểm PCA ra phán quyết, Bắc Kinh càng phải đối mặt với một sự lựa chọn nếu Trung Quốc thực sự muốn giải quyết tranh chấp Biển Đông: Chấp nhận giải quyết vấn đề thông qua một diễn đàn, một kênh tư pháp thích hợp, hoặc chấp nhận các nhượng bộ “yêu sách chủ quyền” trong đàm phán với các bên yêu sách.

Nhưng cả hai đối với Trung Quốc hiện nay đều khó, bởi họ đã và đang tuyên truyền (nhồi sọ) rất mạnh khiến rất nhiều người dân Trung Quốc tin rằng, Biển Đông là của họ.

Tuy nhiên người viết lại cho rằng, phán quyết của PCA chính là cơ hội cho Trung Quốc rút đường lưỡi bò trong danh dự.

Với phán quyết của một cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền, Bắc Kinh cũng dễ ăn dễ nói hơn với người dân của mình về cái gọi là “chủ quyền không tranh cãi với Biển Đông từ thời cổ đại”.

Một quan chức, một cá nhân, thậm chí là nhà nước Trung Quốc tự hủy đường lưỡi bò thì khó tránh khỏi dư luận nước này cho là họ “bán nước”, bởi họ được dạy từ mầm non đến sau đại học rằng, Biển Đông là của họ.

Ở đời thường, người ta biết sai và sửa sai đã là việc khó, thì trong những vấn đề phức tạp, khó khăn và nhạy cảm như biên giới lãnh thổ, lợi ích quốc gia, cá nhân một chính khách cho đến một chính phủ nhận ra sai lầm và sửa chữa sai lầm của thế hệ trước đã ăn sâu vào tiềm thức xã hội là vô cùng khó, đòi hỏi một dũng khí rất lớn.

Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền như PCA chính là cơ hội quý báu cho các bên xem lại việc mình áp dụng, giải thích UNCLOS 1982 đã đúng hay chưa, cái nào chưa đúng thì cần phải điều chỉnh.

Đó cũng là cơ hội quý báu để chính phủ các bên liên quan bao gồm Trung Quốc giải thích rõ cho người dân nước mình hiểu được, quyền lợi quốc gia mình ở Biển Đông đến đâu, theo điều khoản nào của UNCLOS 1982, nhất là đối với đường lưỡi bò.

Trật tự hàng hải toàn cầu và luật pháp quốc tế cần phải được tôn trọng

Đó không chỉ là đòi hỏi của các bên liên quan trực tiếp ở Biển Đông, mà ngay cả dư luận các nước ASEAN không có yêu sách cũng vậy. Đó là lý do tại sao The Straits Times ngày 27/6 có bài xã luận khẳng định, nếu không có UNCLOS 1982 với sự tham gia của hơn 160 nước, với sự hỗ trợ của EU, thì các vùng biển và đại dương có thể rơi vào tình trạng vô pháp luật, hỗn loạn không hồi kết.

Để có được UNCLOS 1982, nhân loại đã trải qua một quá trình đấu tranh, nỗ lực xây dựng không mệt mỏi với mục đích rất đáng ca ngợi: Cung cấp một trật tự pháp lý, quy tắc ứng xử cho các nước trên các vùng biển và đại dương, bảo vệ tự do trên biển.

Quá trình xây dựng và hình thành của UNCLOS 1982 ngoài việc đảm bảo một số vùng biển quy ước thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển, các quốc gia quần đảo (như nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), phần biển cả rộng lớn còn lại là tài sản chung của nhân loại, bao gồm đi lại tự do và các nguồn lực từ vùng biển đó, các nguồn tài nguyên dưới đáy biển, đáy đại dương.

Tuy nhiên Trung Quốc được xem là đang phá hoại nghiêm trọng UNCLOS 1982 mà nước này đã ký vào, đã phê chuẩn. Nổi bật nhất là việc Bắc Kinh leo thang quân sự hóa Biển Đông, vu cáo cho Mỹ quân sự hóa Biển Đông khi Hoa Kỳ thực hiện các hoạt động tuần tra bảo vệ tự do và an toàn hàng không, hàng hải trên Biển Đông.

Tương tự như vậy, một mặt Trung Quốc nói họ không phản đối chủ quyền của Indonesia với quần đảo Natuna, nhưng lại cho tàu cá đi trước, tàu hải cảnh theo sau xâm phạm liên tục và nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Indonesia xung quanh vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa phía Bắc quần đảo Natuna với cái cớ đó là “ngư trường truyền thống” của họ.

Bởi vậy người viết tin rằng, dù Bắc Kinh có tuyên truyền thế nào đi nữa, thì một tay cũng không che nổi mặt trời. Mặt trời của công lý, công pháp và chân lý sẽ vạch trần những âm mưu hắc ám. Người dân Trung Quốc có thể bị bưng bít một thời chứ không thể bưng bít mãi mãi (dân Việt Nam cũng vậy), quay đầu là bờ, buông đao thành Phật nên là điều Trung Quốc suy nghĩ kỹ trước khi phản ứng với phán quyết của PCA.

Anh rời EU: Việt Nam sẽ chịu
ảnh hưởng nặng từ… Trung Quốc

Bảo Linh (VTC News) – Chuyên gia kinh tế nhận định khi Anh rời Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam chịu ảnh hưởng gián tiếp từ Trung Quốc lớn hơn từ Anh.

Ngày 24/6, thế giới ghi nhận cuộc bầu cử mang tính lịch sử. Kết quả cho thấy, đa số người dân Anh ủng hộ Brexit và quyết định Anh sẽ rời khỏi liên minh châu Âu (EU). Ngay lập tức, thị trường tài chính, chứng khoán toàn cầu chao đảo, thị trường vàng nhảy vọt. Điều đó cho thấy Brexit ảnh hưởng tới kinh tế toàn cầu là rất lớn.

Và câu hỏi đang được nhiều người đặt ra chính là mức độ tác động của Brexit tới kinh tế Việt Nam. Phóng viên báo điện tử VTC News đã phỏng vấn các chuyên gia kinh tế về những khó khăn mà Việt Nam có thể gặp phải ở thời kỳ “hậu” Brexit.


Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc lớn hơn từ Anh

TS Nguyễn Trí Hiếu: Ảnh hưởng từ Trung Quốc lớn hơn

Có thể thấy, Brexit đã ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế toàn cầu. Còn với Việt Nam, Brexit chắc chắc có tác động nhưng mức độ thì không quá lớn vì Anh không phải đối tác thương mại trực tiếp lớn của Việt Nam. Đa số hàng hóa Việt Nam vào Anh đều được xuất khẩu qua EU.

Hiện tại, EU đang là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam. Khi Anh rời EU, có thể cả EU và Anh đều yếu hơn. Khi cả 2 cùng yếu, tổng cầu sẽ giảm, từ đó khiến xuất khẩu từ Việt Nam sang EU có thể sẽ sụt giảm.

Bên cạnh đó, tỷ giá cũng bị ảnh hưởng. Khi đồng Euro và GBP giảm giá. Tỷ giá trung tâm sẽ bị ảnh hưởng vì tỷ giá trung tâm có sự góp mặt của 2 đồng tiền này. Đồng Việt Nam có khả năng sẽ bị điều chỉnh tăng. Nội tệ tăng giá thì xuất khẩu từ Việt Nam sang EU và Anh sẽ kém cạnh tranh hơn.

Thế nhưng, ảnh hưởng trực tiếp từ EU và Anh lại không lớn bằng ảnh hưởng gián tiếp từ Trung Quốc. Khi Anh rời EU, đồng Euro và đồng bảng Anh (GBP) giảm sâu. Cũng như Việt Nam, xuất khẩu của Trung Quốc bị tác động. Hàng hóa của Trung Quốc trở nên đắt đỏ và kém cạnh tranh hơn. Để hỗ trợ xuất khẩu, Trung Quốc đã phá giá đồng nhân dân tệ.

BBCquote
Để hỗ trợ xuất khẩu, Trung Quốc đã phá giá đồng nhân dân tệ. Động thái này vừa khiến hàng hóa Việt Nam khó cạnh tranh hơn với hàng Trung Quốc, vừa khiến tiền Việt Nam khó có thể giữ giá.TS Nguyễn Trí Hiếu

Động thái này vừa khiến hàng hóa Việt Nam khó cạnh tranh hơn với hàng Trung Quốc, vừa khiến tiền Việt Nam khó có thể giữ giá.

Nói chung, Brexit sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ giá và xuất khẩu sang EU, Anh. Thế nhưng, tác động gián tiếp từ Trung Quốc tới Việt Nam sẽ lớn hơn.

TS Nguyễn Minh Phong: Có ảnh hưởng nhưng không lớn

Ảnh hưởng của Brexit mang tính toàn cầu với mức độ rất lớn. Thế nhưng, tác động của Brexit tới Việt Nam dù có nhưng không lớn, không đáng lo ngại. Brexit tác động tới Việt Nam cả về mặt trực tiếp và gián tiếp.

Về mặt trực tiếp, Anh, thông qua EU là đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Xuất khẩu từ Việt Nam sang Anh (qua EU) chiếm tổng 15% xuất khẩu sang EU. Khi xảy ra Brexit, có 2 lý do khiến xuất khẩu sang EU và Anh kém đi.

Thứ nhất, khi Anh rời EU, cả EU và Anh đều yếu đi khiến tổng cầu giảm. Tổng cầu giảm nên nhu cầu nhập khẩu giảm khiến xuất khẩu từ Việt Nam sang 2 khu vực này sẽ giảm.

Thứ hai, Euro và GBP đang giảm. Điều đó có nghĩa đồng Việt Nam đang đắt hơn so với đồng tiền này. Như vậy, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang EU và Anh trở nên đắt hơn và lợi thế cạnh tranh kém hơn. Nhưng cũng cần phải biết khá nhiều mặt hàng xuất khẩu sang Anh là hàng đặc thù, ít có đối thủ. Vì vậy, có thể sản lượng xuất khẩu giảm ít nhưng doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn thiệt hại vì thu nhập của họ giảm sút.


Ảnh hưởng của Brexit mang tính toàn cầu

Về mặt gián tiếp, Brexit ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán. Khi các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có nhiều mặt hàng xuất khẩu sang EU và Anh gặp khó, giá cổ phiếu sẽ giảm. Ngoài ra, chứng khoán còn bị ảnh hưởng tâm lý chứng khoán toàn cầu.

Không chỉ có vậy, Brexit còn ảnh hưởng tới kiều hối. EU và Anh suy yếu nên Việt kiều ở 2 khu vực có thể gặp khó khăn hơn, thu nhập giảm sút nên lượng kiều hối từ 2 khu vực này gửi về Việt Nam nhiều khả năng sẽ giảm.

Còn về FDI, hiện tại chưa đánh giá được tác động. Anh đang đứng ở vị trí thứ 15 về FDI vào Việt Nam. Khi Anh suy yếu, FDI vào Việt Nam có thể sẽ giảm. Tuy nhiên, vẫn có khả năng vì khó khăn hơn khi đầu tư trong nước, nguồn vốn này có thể sẽ tới Việt Nam. Vì vậy, FDI là vấn đề tôi chưa rõ.

Quan trọng không kém là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU. Hiệp định này mới được ký cuối năm 2015 nhưng nhiều khả năng sẽ bị điều chỉnh lại.

Thận trọng với doanh nghiệp vay ngoại tệ mạnh

Brexit được đánh giá sẽ ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán Việt Nam. Ảnh hưởng đầu tiên của Brexit tới thị trường chứng khoán Việt Nam, theo công ty chứng khoán FPTS chính là động thái tăng mạnh giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, khối ngoại tập trung bán mạnh các cổ phiếu bluechip như HPG, VNM, PVD, PVS.

Còn xét về lâu dài, công ty chứng khoán BIDV đánh giá hoạt động thương mại và đầu tư song phương sẽ không bị ảnh hưởng quá lớn, tuy nhiên Brexit sẽ tác động gián tiếp ảnh hưởng đến diễn biến tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô ngắn hạn, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán khi dòng vốn đầu tư nước ngoài gián đoạn và đảo chiều.

BIDV khuyến cáo nhà đầu tư nên thận trọng với các mã cổ phiếu có vay nợ ngoại tệ mạnh như JPY, USD, Euro, thận trọng với các ngành có mức độ phụ thuộc vào thị trường châu Âu lớn (thủy sản, da giày, dệt may).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s