Nợ công của Việt Nam trên 1,8 triệu tỷ đồng, nghĩa vụ trả nợ tăng chóng mặt

Posted: July 4, 2016 in Uncategorized
Tags:

An Ngọc /Trí thức trẻ (Cafef.vn) – Theo số liệu mới nhất được Bộ Tài chính công bố về tình hình nợ công của Việt Nam, dư nợ tính đến cuối năm 2014 lên tới 1,8 triệu tỷ đồng, tương đương 80 tỷ USD.

� Xem thêm: Sau 4 năm, dư nợ Chính phủ tăng 103% + Nông nghiệp lần đầu tiên tăng trưởng âm: Nông dân đang “kiệt sức”.


Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Trong bản tin nợ công số 4 được Bộ Tài chính vừa công bố, nợ của Chính phủ được xem là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước được ký kết nhân dân Nhà nước, Chính phủ hoặc các khoản vay khác của Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền.

Theo đó, tính đến năm 2014 số dư nợ của Chính phủ là hơn 1,8 triệu tỷ đồng. Nợ công đã tăng gấp đôi so với năm 2010 (ở mức hơn 889.000 tỷ đồng), trong khi năm 2013 dư nợ Chính phủ là hơn 1,5 triệu tỷ đồng.


Nguồn: Bộ Tài chính (Số liệu thống kê nợ công năm 2014
có thể sẽ được chỉnh lý sau khi quyết toán NSNN được Quốc hội phê chuẩn)

Cơ cấu nợ trong nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ của Chính phủ. Cụ thể, năm 2014 nợ nước ngoài là 810.000 tỷ đồng thì nợ trong nước là trên 1 triệu tỷ đồng. Điều đáng chú ý là tỷ trọng nợ trong nước tăng cao chỉ bắt đầu trong hai năm 2013 – 2014, trong khi giai đoạn trước 2012, nợ nước ngoài vẫn chiếm tỷ lệ lớn.

Thông tin này cũng phù hợp với số liệu được ông Võ Hữu Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) đưa ra tại cuộc họp báo mới đây. Theo đó, hiện nợ của Chính Phủ bằng Việt Nam đồng chiếm khoảng 55%; nợ bằng USD chiếm khoảng 16%, nợ bằng đồng Yên khoảng 13%, nợ bằng Euro khoảng 7% và nợ bằng Bảng Anh chiếm 2% và còn lại là nợ bằng những loại tiền khác.

Trở lại bản tin nợ công của Bộ Tài chính, nếu như năm 2010 trong tổng số 889.000 tỷ đồng nợ thì hơn 530.000 tỷ đồng là nợ nước ngoài và chỉ hơn 359.000 tỷ đồng là nợ trong nước. Năm 2011 – 2012, nợ nước ngoài lần lượt là hơn 666.000 tỷ đồng và hơn 727.000 tỷ đồng trong khi nợ trong nước là hơn 426.000 tỷ đồng và 552.000 tỷ đồng.

Đáng chú ý, số dư nợ được Chính phủ bảo lãnh ngày càng tăng lên, từ 226.000 tỷ đồng năm 2010 đã tăng lên trên 422.000 tỷ đồng năm 2014. Dư nợ Chính phủ so với thu ngân sách của năm 2014 bằng 211,5%, trong khi năm 2010 con số này là 157,9%.

Bản tin nợ công cũng đưa ra con số trả nợ hàng năm mà Chính phủ thực hiện. Theo đó, năm 2014 con số trả nợ là hơn 260.000 tỷ đồng, tăng gần 199% so với năm 2010, ở mức 87.000 tỷ đồng năm 2010. Còn theo thông tin được ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục quản lý nợ và Tài chính đội ngoại đưa ra thì năm 2016 số trả nợ là 166.000 tỷ đồng, nợ công năm 2015 ở mức 62,3%, nằm trong giới hạn.

Trước đó, Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch vay trả nợ của Chính phủ. Trong đó vay 452.000 tỷ đồng trong năm 2016 để bù đắp bội chi 254.000 tỷ đồng, phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư 60.000 tỷ đồng; vay ODA, ưu đãi để cho vay lại 43.000 tỷ đồng; vay đảo nợ 95.000 tỷ đồng.

Sau 4 năm, dư nợ Chính phủ tăng 103%

Minh Thái (BĐV) – Theo Bản tin nợ công số 4 được Bộ Tài chính công bố ngày 30/6/2016, dư nợ Chính phủ trong năm 2014 theo tính toán ở mức hơn 1,8 triệu tỷ đồng.

Cũng trong năm này, ngân sách đã phải dành 260.800 tỷ đồng để trả nợ.

Nợ của Chính phủ theo giải thích trong bản tin là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền.

Con số này theo báo cáo mới công bố, năm 2014 ở mức trên 1,8 triệu tỷ đồng. Trong năm 2013, dư nợ của Chính phủ là hơn 1,5 triệu tỷ đồng. Nếu so với năm 2010 khi dư nợ ở mức hơn 889.000 tỷ đồng, dư nợ Chính phủ trong năm 2014 đã tăng hơn 103%.


Tổng số tiền trả nợ trong năm 2014 theo báo cáo là hơn 260.000 tỷ đồng.

Dư nợ của Chính phủ năm 2014 theo thống kê tương đương 46,4% GDP. Trong cơ cấu nợ, nợ trong nước có tỷ lệ lớn hơn nợ nước ngoài. Cụ thể, nợ trong nước là hơn 1 triệu tỷ đồng và trên 800.000 tỷ đồng còn lại là nợ nước ngoài.

Nhìn lại từ năm 2010, xu hướng này chỉ xuất hiện trong 2 năm là năm 2013 và năm 2014. Trước đó, từ năm 2010, nợ nước ngoài luôn chiếm phần lớn trong cơ cấu nợ. Ví dụ, trong năm 2010, trong tổng số 889.000 tỷ đồng nợ thì hơn 530.000 tỷ đồng là nợ nước ngoài và chỉ hơn 359.000 tỷ đồng là nợ trong nước. Tương tự, năm 2011 và năm 2012, nợ nước ngoài cũng tăng dần khi lần lượt là hơn 666.000 tỷ đồng và trên 727.000 tỷ đồng.

Theo tính toán, dư nợ Chính phủ so với thu ngân sách của năm 2014 bằng 211,5%. Tỷ lệ này tăng dần trong 5 năm liên tiếp. Từ ngưỡng 157,9% trong năm 2010, dư nợ Chính phủ so với thu ngân sách lên mức 162%, 172%, 184% và 211,5% những năm tiếp theo.

Tổng số tiền trả nợ trong năm 2014 theo báo cáo là hơn 260.000 tỷ đồng. Con số này tăng tới gần 199% so với năm 2010. Trong những năm trước, tổng trả nợ trong kỳ chỉ ở mức hơn 87.000 tỷ đồng năm 2010, rồi sau đó lên gần 111.000 tỷ đồng năm 2011 và trên 154.000 tỷ đồng một năm sau đó.

Ở một diễn biến khác, báo VietNamNet dẫn số liệu của Bộ Tài chính cho hay, tính đến 31/12/2015, tổng số cam kết bảo lãnh chính phủ là gần 26 tỷ USD, trong đó bảo lãnh nước ngoài là hơn 21,8 tỷ USD, chiếm xấp xỉ 84%.

Tính đến hết 2015, tổng số nợ thực tế được Chính phủ bảo lãnh là khoảng 21 tỷ USD (bao gồm cả nợ được bảo lãnh để tái cơ cấu Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam – SBIC). Con số bảo lãnh này chiếm khoảng 17,6% tổng dư nợ công và bằng 11,1% GDP.

Đáng chú ý, riêng trong giai đoạn 2011-2015 đã có sự “bùng nổ” về bảo lãnh các khoản vay.

Giai đoạn này, Bộ Tài chính đã cấp bảo lãnh vay trong và ngoài nước cho 35 chương trình, dự án với tổng số vốn cam kết tương đương 15,6 tỷ USD. Hầu hết là vay nước ngoài với 14 tỷ USD.

Bộ Tài chính cho hay, tổng số tiền Chính phủ cam kết cấp bảo lãnh giai đoạn này đã gấp gần 3 lần giai đoạn 2007-2010. Trong đó năm 2012 là đỉnh của huy động vốn thông qua bảo lãnh chính phủ (4,35 tỷ USD).

Các khoản bảo lãnh của Chính phủ chủ yếu dành cho các “ông lớn” Nhà nước như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam…

Các dự án thuộc ngành điện được bảo lãnh nhiều nhất. Số cam kết bảo lãnh lũy kế đến 31/12/2015 của các tập đoàn, tổng công ty lớn trong lĩnh vực điện là hơn 15,9 tỷ USD.

Trong đó Tập đoàn điện lực Việt Nam (công ty mẹ) được bảo lãnh nhiều nhất với hơn 9,7 tỷ USD, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – PVN là hơn 2,4 tỷ USD, Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam là hơn 647 triệu USD…

Nông nghiệp lần đầu tiên tăng trưởng âm:
Nông dân đang “kiệt sức”

Chúc Ly (Dân Việt) – Trong đợt hạn mặn kỷ lục vừa qua, hàng ngàn nông dân (ND) ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rơi vào cảnh trắng tay, vỡ nợ khi lúa, hoa màu, mía chết cháy, sản xuất thủy sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng…

LTS: Như NTNN đã thông tin, mới đây, tại cuộc họp sơ kết 6 tháng đầu năm, Bộ NNPTNT đã công bố số liệu cho thấy, lần đầu tiên sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng tăng trưởng âm. Ngoài các nguyên nhân như rét đậm, hạn, mặn, biến đổi khí hậu đã được chỉ ra, một trong những nguyên nhân quan trọng đó là, nông nghiệp trong những năm qua được đầu tư quá thấp, khiến nông dân gần như kiệt sức, không đủ khả năng đầu tư mở rộng sản xuất. Ghi nhận của phóng viên NTNN cho thấy rõ điều này…

Phó mặc cho may rủi

Theo số liệu từ Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, tình hình hạn hán và xâm nhập mặn ở các tỉnh ĐBSCL đã gây thiệt hại nặng nề về sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng sinh hoạt người dân.

Cụ thể, có hơn 221.000ha lúa bị thiệt hại (trong đó tỷ lệ lúa chết trên 70% trên 128.200ha); diện tích rau màu bị thiệt hại khoảng 6.568ha; cây ăn trái và cây công nghiệp thiệt hại 26.500ha…


Nhiều diện tích lúa hè thu 2016 của nông dân tỉnh Hậu Giang
bị thiệt hại do đợt mưa bão đầu mùa. ảnh: Chúc Ly

Đi đến các vùng trồng lúa ở các tỉnh vùng ĐBSCL, không khó để nhận ra không khí đìu hiu của xóm làng nơi đây sau đợt hạn, mặn được coi là lịch sử này. Gặp phóng viên, bà Trương Thị Hoài Nhân (ngụ xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu), ngậm ngùi: “Gia đình tôi thuộc diện nghèo khó, không đất sản xuất nên phải thuê 5 công đất để sản xuất lúa. Nhưng trời không thương, lúa chết trắng đồng trong đợt hạn mặn vừa rồi, thiệt hại gần 40 triệu đồng. Giờ phải đi vay mượn khắp nơi để có tiền đầu tư nuôi tôm lại, nhưng nghe đâu nuôi tôm cũng bấp bênh, dịch bệnh rồi thời tiết khắc nghiệt. Chúng tôi giờ chỉ biết cầu trời”.

Trong đợt hạn, mặn vừa qua, có khoảng 225.800 hộ gia đình ở ĐBSCL bị thiếu nước sinh hoạt. Tổng thiệt hại do hạn, mặn gây ra ước trên 4.729 tỷ đồng.

Khi được nghe phóng viên hỏi, sao không đợi hỗ trợ của nhà nước, mà phải vội vàng đi vay lãi, bà Nhân nói, đợi được hỗ trợ thì có lẽ đã hết vụ tôm, bây giờ hết hạn rồi, phải tranh thủ xuống giống cho kịp vụ tôm mới.

Còn ông Đoàn Văn Khang (xã Đại Ân 1, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng) than: “Gần chục năm theo nghề trồng mía, với 5 công mía vụ rồi, tôi đầu tư gần 50 triệu đồng. Thời tiết bất lợi, tôi phải xuống giống đến 3 lần. Ban đầu nước mặn tràn vào ruộng mía, tôi cứ nghĩ sau vài ngày sẽ rút, ai dè nó kéo dài, rồi khi hết mặn thì lại đến hạn. Chúng tôi chỉ biết đứng nhìn mía chết khô, không chỉ gia đình tôi mà hàng ngàn hộ dân cũng lâm vào cũng nợ nần”. Cũng như bà Nhân, ông Khanh và nhiều hộ dân ở đây lại đang phải chạy vạy đi vay vốn để trả nợ.

Trước các thiệt hại do hạn, mặn gây ra vừa qua, nhiều nông dân ĐBSCL thay vì chọn phương án ở lại để khôi phục sản xuất, đã chọn cách “thoát ly” khỏi đồng ruộng lên các thành phố để tìm công ăn việc làm mới. Theo kết quả nghiên cứu gần đây của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ cho thấy, ĐBSCL là vùng có số dân di cư cao nhất nước (6 – 7%).

Không thể hỗ trợ kiểu “theo đuôi thiệt hại”

Đánh giá về thực trạng nông nghiệp, ND ở ĐBSCL hiện nay, ông Trần Hữu Hiệp – Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ nêu quan điểm: Chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, tác động của thiên tai nghiêm trọng, nhưng mặt khác cũng có những khó khăn tồn tại từ lâu khiến cho đời sống người ND ngày càng khó khăn.

“Với tình trạng hạn mặn, chúng ta đã nhìn thấy những con số với những hỗ trợ, nhưng đó chỉ là những hỗ trợ trước mắt, còn lâu dài phải làm sao cho người ND chống chịu được, nâng cao sinh kế. Phải thấy được rằng biến đổi khí hậu không phải chỉ có năm nay, còn có những năm sau, mà chúng ta không lường trước được. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống cảnh báo sớm, thông tin cho người dân, phải có chính sách chủ động chứ không phải đi theo đuôi thiệt hại” – ông Hiệp nhấn mạnh.

Một vấn đề nữa tồn tại ở ĐBSC là, mặc dù Bộ NNPTNT đã phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cây trồng trên đất lúa giai đoạn 2014-2020 với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất, duy trì quỹ đất trồng lúa, đảm bảo an ninh lượng thực quốc gia và tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo… Mục tiêu cụ thể của vùng ĐBSCL là khoảng 200.000ha đến năm 2020.

Tuy nhiên, theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, trên thực tế diện tích chuyển đổi từ cây lúa năng suất thấp sang các loại hoa màu khác ở các tỉnh ĐBSCL rất thấp, chỉ đạt 3.600ha vào năm 2015.

Ông Trần Văn Dũng – Trưởng Văn phòng Thường trực tại Nam Bộ, Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết: “Việc chuyển đổi hiện nay còn tự phát, các địa phương chưa hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi với những giải pháp đồng bộ về vụ, vùng chuyển đổi, cây trồng và kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên làm mô hình thì thành công nhưng chưa nhân ra diện rộng”.

Cũng theo ông Dũng, chính sách của Nhà nước còn bất cập (Quyết định 62 của Chính phủ), đặc biệt có chính sách hỗ trợ nhưng nguồn kinh phí lại từ địa phương nên tính khả thi thấp.

Về các khó khăn trong chuyển đổi cây trồng, TS Lê Quý Kha – Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho rằng: “Thuyết minh dự án cũng như hợp đồng thực hiện ở cấp T.Ư được phê duyệt khá chậm nên không theo kịp mùa vụ tại địa phương. Người dân một số vùng còn ngán ngại trong việc chuyển đổi cây trồng; ứng dụng cơ giới hóa trong khâu làm đất còn hạn chế nên chi phí còn rất cao; giá cả bấp bênh, phương thức tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp chưa khuyến khích người dân đẩy mạnh chuyển đổi”.

Ông Lê Quốc Doanh-Thứ trưởng Bộ NNPTNT :

Chọn những cây trồng có giá trị xuất khẩu

Theo thống kê, dù ngành trồng trọt trong 6 tháng đầu năm suy giảm 3%, nhưng số liệu thống kê cũng cho thấy, xuất khẩu các mặt hàng nông sản lại tăng 5,1% đạt kim ngạch 7,3 tỷ USD. Đây là điều khá bất ngờ, nhưng xem xét lại thì thấy, chúng ta đang có những bước chuyển đổi đúng hướng trong ngành trồng trọt, đó là tập trung vào những cây có giá trị xuất khẩu lớn như trái cây xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm đã tăng tới 47% đạt trên 1 tỷ USD và chắc chắn hết năm nay sẽ đạt trên 2,5 tỷ USD. Định hướng của Bộ trong thời gian tới là sẽ tập trung vào những cây trồng có giá trị lớn, không nhất thiết cứ phải trồng lúa.

Ông Trần Hữu Hiệp- Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ:

Kinh tế nông hộ đứng trước thách thức lớn

Từ lâu, nền kinh tế nông hộ được ca tụng, vì trong đổi mới thì một trong những đột phá là phát huy kinh tế nông hộ, nhưng kinh tế nông hộ hiện nay đang đứng trước thách thức lớn khi hội nhập, cạnh tranh. Vì vậy, đặt ra yêu cầu là phải có những mô hình liên kết tốt, đặc biệt là vai trò của doanh nghiệp, chính sách của Nhà nước hỗ trợ người dân. Hỗ trợ không phải là một vài chính sách nhỏ lẻ mà phải có phương thức làm ăn mới.

Như trong chuỗi liên kết sản xuất, chế biến lúa gạo vẫn còn có nhiều bất cập. Trước nhất là sự liên kết của các tác nhân trong chuỗi chưa chặt chẽ, trên cơ sở chia sẻ lợi ích với nhau, người ND chưa được hưởng lợi hợp lý.

Ngọc LêTrần Ly (ghi)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s