Tiêu hết 3.000 tỷ đồng: Nhà máy bột giấy Phương Nam đang chờ được thanh lý

Posted: July 5, 2016 in Uncategorized
Tags:

Phương Liên (Baotinnhanh.vn) – Sau 10 năm vốn đội vốn lên tới 3.000 tỷ đồng, cuối cùng Nhà máy Bột giấy Phương Nam đã chính thức phải đóng cửa vì không hoạt động nổi.

� Xem thêm: Nhà máy giấy 2.000 tỉ ‘trùm mền’, người dân ôm nợ + Xót xa những dự án ngàn tỉ ‘đắp chiếu’.


Nhà máy Bột giấy Phương Nam được quảng bá “sẽ sản xuất ra
loại bột giấy tốt nhất Việt Nam, tương đương chất lượng châu Âu.

Sau 10 năm điều chỉnh vốn đầu tư lên tới 3.000 tỷ đồng, nhưng Nhà máy Bột giấy Phương Nam (huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An) vẫn chưa hề một lần hoạt động với lý do công nghệ không phù hợp nên không thể sản xuất được giấy thành phẩm.

Ông Nguyễn Xuân Hồng – Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Long An cho biết, Nhà máy Bột giấy Phương Nam đến nay vẫn chưa được thanh lý và toàn bộ vùng nguyên liệu đay đã bị xóa xổ vì hơn 10 năm nay, nhà máy này không hề hoạt động.

Theo tìm hiểu của phóng viên, vào tháng 10/2003, dự án đã được UBND tỉnh Long An phê duyệt báo cáo khả thi, với tổng mức đầu tư là 1.487 tỷ đồng, dùng công nghệ PR – C – APMP, thiết bị được chế tạo đồng bộ, mới 100% và hình thức triển khai là chìa khóa trao tay.

Tháng 3/2006, Tracodi đã khởi công xây dựng Nhà máy Bột giấy Phương Nam với công suất 100.000 tấn bột giấy/năm cùng với lời quảng bá “sẽ sản xuất ra loại bột giấy tốt nhất Việt Nam, tương đương chất lượng châu Âu.Tuy nhiên,sau hơn một năm xây dựng nhưng nhà máy Bột giấy Phương Nam vẫn chưa thể đi vào hoạt động .

Tới ngày 16/11/2007, Tracodi có quyết định điều chỉnh tổng mức đầu tư của Dự án lên 2.286 tỷ đồng, nhưng Dự án vẫn chưa thể hoàn tất đầu tư.

Vào tháng 6/2009, theo Quyết định 731/QĐ-TTg, chủ đầu tư Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam đã được chuyển từ Tracodi sang Tổng công ty Giấy Việt Nam (Vinapaco). Để rành mạch công việc được triển khai của Tracodi, cơ quan kiểm toán độc lập đã được mời vào đánh giá.

Theo đó, tính tới ngày 30/6/2009, phần việc của Tracodi đã thực hiện tại Dự án là khoảng 60%, cụ thể là 35% giá trị xây lắp (trị giá 38,8 tỷ đồng) của nhà sản xuất chính; Khu xử lý nước thải 40% (với giá trị 36 tỷ đồng); Nhà văn phòng hoàn thành 40% (giá trị 8 tỷ đồng); Nhà ở công nhân hoàn thành 30% (giá trị 6 tỷ đồng).

Đối lập với sự chậm chạp của tất cả các công đoạn, thì việc tiêu tiền cho mua máy móc thiết bị của Tracodi lại rất nhanh nhẹn! Theo kết quả kiểm toán độc lập, gói thầu mua sắm thiết bị được ký với nhà thầu Andritz đã được thực hiện đầy đủ, toàn bộ thiết bị đã được tập kết về mặt bằng nhà máy và “hầu hết vẫn còn nguyên đai, nguyên kiện, chưa được kiểm tra thực tế” và tất nhiên chưa được lắp đặt, chạy thử, nhưng Tracodi đã ký biên bản nghiệm thu và thanh toán 100% giá trị hợp đồng cho nhà thầu Andritz. Toàn bộ giá trị thanh toán đó lên tới 57,097 triệu euro.

Cũng tính tới ngày 30/6/2009, tổng giá trị đầu tư của Dự án là 2.033 tỷ đồng, Dự án đã được bố trí nguồn vốn là 2.021 tỷ đồng, đây cũng là số tiền thanh toán cho các nhà thầu tham gia Dự án.

Liên quan đến vùng nguyên liệu, trong năm 2007-2008, trong quá trình thực hiện dự án, Tracodi phát động nông dân trồng đay nguyên liệu, với vùng đay chuyên canh được quy hoạch tại ba huyện khu vực Đồng Tháp Mười là Thạnh Hóa, Mộc Hóa, Tân Thạnh được nâng từ 3.100ha vọt lên 8.800ha. Đặc biệt, 10.000ha đất trồng lúa thuộc hai huyện Mộc Hóa, Thạnh Hóa (Long An) có năng suất thấp được người dân chuyển sang trồng đay phục vụ nhu cầu nhà máy.

Tuy nhiên, với giá mua đay nguyên liệu thấp, ngay từ khi đưa vào hoạt động nhà máy đã bị nông dân phản ứng. Lúc này, UBND tỉnh Long An đã phải vào cuộc can thiệp để giải quyết mối quan hệ “xấu” đi giữa Nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam với người trồng đay. Nhiều cuộc họp được tổ chức, nhiều lời hứa sẽ nâng giá mua đay và mua tất cả sản lượng trong vùng quy hoạch… nhưng tất cả chỉ là lời hứa trong khi nhà máy vẫn ì ạch với việc chạy thử. Sản lượng đay trong vùng quy hoạch cũng giảm dần vì người dân mất niềm tin vào một dự án chuyên canh đay lớn nhất nước có thể đem lại nguồn lợi kinh tế cho vùng đất cằn cỗi.

Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động cầm chừng thì đến cuối năm 2009 nhà máy tạm ngừng hoạt động do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự mâu thuẫn về giá mua nguyên liệu với người trồng đay, nhưng chủ yếu là máy móc liên tục bị trục trặc nên toàn bộ dây chuyền đã không thể tiếp tục chạy thử được.


Tiêu tốn 3000 tỷ đồng, nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam đang chờ được thanh lý

Vinapaco đã mời chuyên gia nước ngoài sang và các chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí và công nghiệp giấy Việt Nam tham gia khắc phục sự cố trong khâu chặt mảnh. Đồng thời, Viện Công nghệ Giấy và xenluylo cũng đã tổ chức nghiên cứu thay thế nguyên liệu sản xuất từ đay sang gỗ cứng.

Tuy nhiên, tất cả các kết quả nghiên cứu này đều khẳng định: Không có khả năng khắc phục được sự cố, không có hiệu quả về mặt kinh tế và không khả thi.

Nhà máy sửa chữa nhiều lần nhưng không thể sản xuất được giấy thành phẩm. Lưu kho đến năm 2011, hơn 11.000 tấn đay mục nát, hư hỏng. Ông Nguyễn Xuân Hồng nói: “Công nghệ không phù hợp nên có sửa chữa hay cải tiến thì cũng không được”.

Ngay khi nhận thấy nhà máy có dấu hiệu “đóng băng”, Sở NN&PTNT tỉnh Long An đã phải vận động người dân tạm thời ngừng trồng đay để tránh tình cảnh không có đầu ra. “Nhưng vẫn còn rất nhiều người dân phải trồng đay vì trên thực tế thổ nhưỡng vùng đất này không trồng đay thì không còn biết trồng cây gì khác. Điều đáng tiếc là lẽ ra một mô hình mẫu về đay sẽ được vận hành tốt, đem lại nguồn lợi cho kinh tế vùng nông nghiệp vốn khó khăn thì trên thực tế lại thành ra hoang phí tiền xây dựng nhà máy lẫn mất niềm tin nơi người dân” – ông Lê Văn Hoàng – Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Long An nhận xét.

Nhà máy giấy 2.000 tỉ ‘trùm mền’, người dân ôm nợ

Hoàng Nam (PLO) – “Đến nay, dự án Nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam (ở huyện Thạnh Hóa, Long An) vẫn chưa có đơn vị tiếp nhận sau ba năm dừng hoạt động”.

Ông Đặng Văn Lớp, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Long An, vừa cho biết như trên.

Nhà máy này do Công ty Tracodi, Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 6, Bộ GTVT xây dựng và đưa vào hoạt động năm 2007. Nhà máy có công suất 100.000 tấn bột giấy/năm, được đầu tư tổng vốn hơn 2.000 tỉ đồng, từ nguồn ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, sau gần hai năm vận hành, nhà máy này ngưng hoạt động do máy móc liên tục bị trục trặc.

Tổng Công ty Giấy Việt Nam tiếp nhận nhà máy. Đến năm 2012, nhà máy hoạt động trở lại nhưng máy móc tiếp tục hư hỏng nên đến năm 2013 thì dừng hẳn.


Nhà máy giấy có vốn đầu tư “khủng” trùm mền kéo theo
cảnh nợ nần của người dân địa phương. Ảnh: HN

Sau đó, Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và UBND tỉnh Long An sớm thanh lý hoặc nhượng bán lại nhà máy nhằm tránh gây lãng phí.

Đáng lưu ý, ngoài việc “trùm mền” nhà máy có vốn đầu tư lớn nêu trên, người dân tại huyện Thạnh Hóa đã bỏ lúa trồng đay nguyên liệu phục vụ nhà máy. Diện tích đay trồng lên đến 10.000 ha nhưng nhà máy trục trặc nên chỉ mua được một ít khiến hầu hết người dân rơi vào cảnh nợ nần chồng chất.

Xót xa những dự án ngàn tỉ ‘đắp chiếu’

Chân Luận (PLO) – Nhiều hệ lụy gây ra từ các dự án ngàn tỉ đồng đang “trùm mền”.

Hàng chục dự án có vốn đầu tư hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn tỉ đồng đang ngắc ngoải, “đắp chiếu”, chờ phá sản. Hiệu quả kinh tế của những dự án này không có, gây ra nhiều hệ lụy cho ngân sách vốn đang khá eo hẹp, kéo theo những tác động xã hội tiêu cực.

Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển Bộ KH&ĐT, xung quanh vấn đề này. TS Lưu Bích Hồ cho rằng: “Những dự án ngàn tỉ “đắp chiếu, trùm mền” cần phải được rà soát, quy trách nhiệm và dứt khoát phải xem lại quy trình thẩm định, phê duyệt. Nếu không, những dự án kiểu này sẽ tiếp tục phát sinh, nảy nở và làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế”.

Hàng ngàn tỉ thành đống sắt vụn

. Phóng viên: Thưa ông, những dự án “trùm mền” hiện nay không ít. Ông có thể chỉ tên một số dự án tiêu biểu?

+ TS Lưu Bích Hồ: Kể ra thì nhiều lắm! Nhưng có thể kể đến dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên trị giá hơn 8.000 tỉ đồng; Nhà máy đạm Ninh Bình 12.000 tỉ đồng; dự án Nhà máy sợi Đình Vũ 7.000 tỉ ở Hải Phòng; dự án mở rộng cảng Cái Mép – Thị Vải 7.000 tỉ đồng…

Nếu cộng tất cả dự án “đắp chiếu, trùm mền” trên cả nước, thì số tiền lãng phí, không hiệu quả… có thể lên đến hàng trăm ngàn tỉ đồng. Thật là đau xót!

.Vâng, nhìn những số tiền hàng chục, hàng trăm ngàn tỉ đồng đổ ra không hiệu quả ấy không ai không đau xót. Những hậu quả có thể nhìn thấy qua các dự án này là gì, thưa ông?

+ Chưa nói đến những hậu quả sâu xa cho nền kinh tế, chỉ điểm qua những hậu quả trước mắt ta đã thấy sức ảnh hưởng nặng nề do những dự án này gây ra. Chẳng hạn, dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên hiện nay đã trở thành một đống sắt vụn làm cho kỳ vọng tạo ra hàng chục ngàn việc làm vỡ tan. Nhà máy đạm ở Ninh Bình tuy đi vào hoạt động nhưng lại lỗ lũy kế lên tới 2.000 tỉ đồng, phải sa thải rất nhiều công nhân trong khi số công nhân dự kiến lên tới 1.000 người.

Tình trạng này cũng xảy ra tại Nhà máy Bio-Ethanol Dung Quất khi lẽ ra sẽ tạo việc làm cho khoảng 200 kỹ sư, công nhân thì hiện chỉ còn giữ lại vài chục người để đảm bảo nhà máy hoạt động cầm chừng.

Ở một góc độ khác, các dự án trên còn gây thiệt hại rất lớn khi dù không hiệu quả nhưng vẫn phải trả lãi suất hằng tháng, do trượt giá bị đội vốn…


Dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên trị
giá hơn 8.000 tỉ đồng “đắp chiếu”. Ảnh: HỮU VIỆT

Bệnh thích hoành tráng

. “Liệu cơm gắp mắm” là một trong những nguyên tắc phổ biến trong đầu tư, kinh doanh. Nhưng dường như nguyên tắc này không được tuân thủ đối với những dự án “đắp chiếu, trùm mền”. Theo ông, vì sao lại xảy ra tình trạng này?

+ Tôi cho rằng tư duy “dấu ấn nhiệm kỳ” là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Ai cũng muốn trong nhiệm kỳ của mình phải có dấu ấn bằng những dự án, công trình hoành tráng mà nhiều khi không quan tâm đến hiệu quả kinh tế cũng như sức chịu đựng từ ngân sách nhà nước.

Chính điều này đã sản sinh ra những nhà máy sản xuất đặt ở những vùng không có nguyên liệu, sản xuất cầm chừng, hiệu quả rất thấp. Mặt khác nó cũng làm phát sinh “hội chứng” xin làm cảng, sân bay, làm đường, làm chợ… tràn lan, không hiệu quả.

Thêm nữa, tính hiệu quả của các dự án không cao do việc phải vẽ ra nhiều dự án để xin kinh phí từ trung ương. Trong khi về nguyên lý đầu tư, nếu vốn được dùng đúng chỗ thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực, các ngành. Người ta đã không tuân thủ đúng nguyên lý này.

Điều nguy hiểm là ở chỗ có nhiều dự án, như dự án cảng Cái Mép – Thị Vải, đã có nhiều ý kiến phản biện với đầy đủ luận chứng kinh tế, khoa học… nhưng không ai nghe, vẫn cứ đầu tư. Sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong những trường hợp như vậy đã không được tuân thủ. Điều này khiến cho công tác phản biện, giám sát gặp khó khăn rất nhiều.

. Theo ông, Nhà nước có nên tiếp tục rót tiền vào các dự án ngàn tỉ đồng đang “trùm mền” như đề nghị của các chủ đầu tư?

+ Đối với tình trạng các dự án ngàn tỉ “trùm mền, đắp chiếu” hiện nay, cần phải làm rõ thực trạng và chỉ ra nguyên nhân trong phân cấp quản lý, phê duyệt đầu tư cũng như trách nhiệm cá nhân. Chúng ta dường như chỉ đang giải quyết hậu quả do các dự án này gây ra mà chưa quy trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, người đứng đầu.

Tôi cho rằng đã đến lúc Bộ KH&ĐT phải tổng rà soát các dự án kiểu này để chấm dứt tình trạng đầu tư kém hiệu quả như hiện nay. Bởi một trong những nguyên nhân là do việc phân cấp đầu tư chưa thực sự hợp lý, hoặc chưa có sự giám sát chặt chẽ, hiệu quả đối với phân cấp.

Phải gắn trách nhiệm cá nhân của từng dự án

. Nhưng thưa ông, đôi khi người ta hay nại đến quy hoạch để nói rằng dự án, công trình… đã nằm trong quy hoạch và phải thực hiện?

+ Tôi đồng ý quy hoạch là nền tảng để có thể đầu tư hiệu quả. Tuy vậy, thực trạng quy hoạch hiện nay của chúng ta đang thiếu bài bản. Tình trạng quy hoạch này sẽ khiến còn nhiều dự án rơi vào tình trạng “đắp chiếu, trùm mền” trong tương lai.

Bởi lẽ quy hoạch hiện nay đang có tình trạng theo lý thuyết mà không dựa vào thực tế nguồn vốn, ấy là chưa kể đến tình trạng có những báo cáo thiếu trung thực về nguồn vốn. Thực tế đã có những dự án triển khai được một phần rồi hết vốn, sau đó “đắp chiếu, trùm mền” đợi được bơm vốn. Điều này là hệ quả của cơ chế xin-cho trong cả việc cấp vốn lẫn xây dựng quy hoạch.

Hơn nữa, tình trạng nhiều dự án thoi thóp như hiện nay một phần còn do căn bệnh đầu tư duy ý chí, bệnh thành tích chứ không dựa trên tín hiệu thị trường.

. Để khắc phục tình trạng này, theo ông đâu là giải pháp mấu chốt?

+ Như tôi đã khẳng định nhiều lần, vấn đề then chốt nằm ở bộ máy và con người. Thiết kế lại bộ máy vận hành theo hướng hiện đại, tiên tiến, minh bạch và công khai; có trách nhiệm giải trình là yêu cầu tất yếu, nhất là trong tương lai hội nhập sâu rộng hơn với thế giới.

Ngoài ra, sự quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, gắn trách nhiệm cá nhân cụ thể đối với từng dự án, từng quyết định đầu tư, phê duyệt phải được đặt lên hàng đầu. Tránh tình trạng “tập thể chịu trách nhiệm”, nhất là đối với những dự án “đắp chiếu, trùm mền” hiện nay.

Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh cần phải có những hành động quyết liệt, đi đôi với những lời nói mạnh mẽ. Sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn nếu việc xử lý nghiêm minh trách nhiệm của cá nhân đối với những dự án đang và sẽ “đắp chiếu” không được tiến hành triệt để. Bởi nếu không xử lý nghiêm thì sẽ để lại những hậu quả khôn lường, cả về mặt kinh tế, xã hội.

. Xin cám ơn ông.

Tâm lý hám rẻ gây nhiều hệ lụy

Điểm mấu chốt nhất trong việc thu hút và phê duyệt các dự án từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, là yếu tố giá bỏ thầu thấp. Tâm lý “hám của rẻ” đối với các dự án này là có thật và đang gây ra nhiều hệ lụy cho kinh tế, xã hội như chúng ta thấy.

Đơn cử dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên. Lúc bỏ thầu thì giá thấp, khi phê duyệt thì giá cao hơn, đến khi triển khai thực hiện thì lại đội vốn lên nữa. Hay dự án đường sắt cao tốc Cát Linh – Hà Đông, như chúng ta biết, đã phải điều chỉnh vốn rất nhiều lần, có những lần lên tới gần 400 triệu USD. Nếu so với giá bỏ thầu lúc đầu thì giá của dự án hiện nay đã cao hơn rất nhiều.

Sự thiệt hại này không thể chỉ được tính toán bằng những triệu USD cụ thể, mà còn phải tính tổng thể cả những tác động tiêu cực đến giao thông, môi trường và tâm lý xã hội.

Xét một cách tổng thể, trong những dự án ngàn tỉ “trùm mền, đắp chiếu” hoặc không hiệu quả, trì trệ thì có nhiều dự án có vốn đầu tư từ Trung Quốc.

Một định hướng rất tiến bộ của chúng ta khi phê duyệt những dự án này là yếu tố công nghệ hiện đại, tiên tiến, công nghệ sạch. Tuy vậy, thực tế cho thấy yếu tố giá rẻ vẫn đang chiếm ưu thế gần như tuyệt đối.

Đây là một “lỗ hổng” trong đầu tư mà nếu như không xác định và thực hiện nghiêm túc định hướng thu hút công nghệ cao, hiện đại, công nghệ sạch… thì lỗ hổng này sẽ tiếp tục ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế đất nước và để lại những hậu quả lâu dài.

[:-/] Thủ tướng giao NHNN chủ trì nghiên cứu việc huy động vàng và tiền trong dân (Cafef.vn) – Vấn đề huy động được nguồn lực trong dân (gồm cả vàng và tiền), tạo nguồn vốn phục vụ tăng tưởng kinh tế, Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu, xem xét và báo cáo Chính phủ trong phiên họp sau.

Ngày 01/7/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì phiên họp của Chính phủ trực tuyến với các địa phương về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Kết luận phiên họp, Thủ tướng đã đề ra các định hướng, giải pháp cụ thể để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch 2016.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s