Tập đoàn nhà nước thua lỗ, chôn vốn cả chục ngàn tỉ đồng

Posted: July 11, 2016 in Uncategorized
Tags:

Bảo Trân/Người Lao động (Cafef.vn) – Uỷ ban Kinh tế của QH lo ngại một số dự án, công trình quy mô lớn của tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước thua lỗ nặng nề, tổn thất tài sản Nhà nước tới hàng chục ngàn tỉ đồng.

� Xem thêm: Lương của lãnh đạo các tập đoàn nhà nước “khủng” ra sao? + Lương thưởng của SCIC có tương xứng hiệu quả? + Sự “trơ trẽn” của mấy “ông kẹ” doanh nghiệp nhà nước.

Sáng nay 11-7, tại phiên họp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTV QH) lần thứ 50, trình bày báo cáo thẩm tra báo báo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 (KT-XH), Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của QH Nguyễn Văn Giàu cho biết diễn biến tình hình kinh tế thế giới tiếp tục giảm đà tăng trưởng; các tổ chức quốc tế đều điều chỉnh hạ thấp dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016.

Đáng lo ngại, theo ông Nguyễn Văn Giàu, dư luận hết sức quan tâm trong những tháng đầu năm là về một số dự án, công trình quy mô lớn không thể đưa vào hoạt động, không tạo ra tăng trưởng, việc làm, nộp ngân sách nhà nước, thua lỗ nặng nề và nguy cơ phá sản, tổn thất lớn đến tài sản Nhà nước.

Điển hình các dự án của tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước thua lỗ là dự án Nhà máy Đạm Ninh Bình do Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem) đầu tư với số vốn 12.000 tỉ đồng nhưng qua 4 năm hoạt động, mỗi năm đã lỗ khoảng 2.000 tỉ đồng. Nhà máy sản xuất xơ sợi Đình Vũ của Công ty Cổ phần Hoá dầu và Xơ sợi dầu khí (PVTex) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đầu tư 7.000 tỉ đồng nhưng đã phải tạm ngừng hoạt động. Dự án nhà máy Nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất là 1 trong 3 nhà máy ethanol trọng điểm quốc gia với số vốn đầu tư lên đến hơn 2.200 tỉ đồng đã dừng hoạt động.

Đáng chú ý là dự án mở rộng Nhà máy gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 trên 8.000 tỉ đồng vẫn chưa hoạt động sau 10 năm triển khai. Nhà máy bột giấy Phương Nam, tỉnh Long An do Công ty TNHH một thành viên Phát triển công nghiệp và Vận tải (Tracodi – tên giao dịch ở thời điểm đó là Công ty Đầu tư Phát triển Giao thông vận tải thuộc Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6) đầu tư với số vốn 3.000 tỉ đồng sau 10 năm phải bỏ hoang vì không thể sản xuất được do công nghệ không phù hợp.

Ông Nguyễn Văn Giàu đưa ra một số báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) và Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đánh giá kết quả trưng cầu dân ý việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) sẽ tác động đến từng quốc gia và nền kinh tế toàn cầu.

Với nước ta, việc đàm phán, ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có thể bị kéo dài do thay đổi một số điều khoản của Hiệp định này. Việc giải quyết và đối phó với tranh chấp chủ quyền ở biển Đông trước và sau khi có phán quyết của Tòa án quốc tế cũng là thách thức trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, tác động về môi trường ở lưu vực sông Mê Kông là vấn đề cần đặc biệt quan tâm giải quyết.

Ở trong nước, sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại vùng biển các tỉnh miền Trung, tình hình khí hậu diễn biến bất thường, rét đậm ở phía Bắc, hạn hán ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, xâm nhập mặn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống người dân.

Trong khi đó theo Nghị quyết của QH, năm 2016 GDP tăng 6,7%, kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm chỉ đạt 5,52%, thấp hơn so với mức tăng 6,32% cùng kỳ năm trước, để đạt mức tăng trưởng này, GDP 6 tháng cuối năm phải đạt gần 7,6% là khó khả thi đặc biệt trong bối cảnh không thể nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa trong 6 tháng cuối năm.

Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 476,8 nghìn tỉ đồng, bằng 47% dự toán, thấp hơn tiến độ thu cùng kỳ năm trước (49%), trong đó thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 94,5% so với cùng kỳ năm 2015. Vốn ODA và vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài giải ngân trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 1,85 tỷ USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước, giải ngân vốn trái phiếu chính phủ ước đạt khoảng 33,2% kế hoạch.

Nợ công và nợ bảo lãnh Chính phủ tăng cao. Nợ xấu ngân hàng đến cuối tháng 4-2016 là 2,81% so tổng dư nợ, tuy nhiên thực chất ở mức cao nếu tính cả nợ chuyển bán sang Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, đến tháng 5-2016 là 246.986 tỉ đồng (chỉ khoản chuyển này tương đương gần 5% so với tổng dư nợ).

Lương của lãnh đạo các tập đoàn nhà nước “khủng” ra sao?

Đình Phương/Trí Thức Trẻ (Cafef.vn) 18/06/2016 – Người đứng đầu những tập đoàn, tổng công ty lớn của Việt Nam được công bố hưởng mức lương “khủng” lên tới hơn nửa tỷ đồng/năm. Thế nhưng, chính một số lãnh đạo này lại cười khi bị “lên báo” về mức lương được coi là “cao ngất”.

Theo thống kê của Bộ Công Thương, năm 2014, mức lương lãnh đạo cấp cao của các công ty Nhà nước do Bộ này quản lý dao động trong khoảng từ 38 đến 74 triệu đồng/tháng.

Còn theo số liệu vừa công bố giữa tháng 6/2016, lương của các vị lãnh đạo tập đoàn nhà nước năm 2015 cũng dao động trong khoảng tương tự.

Như tại Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam, lương năm 2015 của ông Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch HĐQT bình quân một tháng là 52,2 triệu đồng, ông Đặng Thanh Hải – Tổng giám đốc là 50,7 triệu đồng/tháng.

Tại Vietnam Airlines, theo kế hoạch dự trù năm 2015, lương cơ bản của Tổng giám đốc là 32 triệu đồng/tháng và nếu kinh doanh tốt thì có thể đạt hệ số 1,5 (tức là thực nhận khoảng gần 50 triệu đồng/tháng).

Trên thực tế, nếu chỉ xét ở mức lương, trưởng phòng ở một công ty trong ngành công nghệ, doanh thu chỉ khoảng vài chục triệu USD/năm ở Hà Nội, cũng đã vượt mức lương của Chủ tịch Tập đoàn Nhà nước với doanh thu cả tỷ đô (hàng trăm nghìn tỷ đồng và lợi nhuận hàng nghìn tỷ).

Nhìn vào những con số mời chào nhân sự cấp cao do Navigos Search đưa ra tháng 4/2016, mức lương dao động trong khoảng từ 100 – 145 triệu đồng/tháng thuộc các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ, thương mại và ngân hàng.

Tổng kết năm 2015, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đạt doanh thu 106,86 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận 600 tỷ đồng. Còn tổng doanh thu của Vietnam Airlines là 70.000 tỷ đồng, lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt trên 1.400 tỷ đồng… Thế nhưng mức lương của các lãnh đạo này thì không thể tăng như các công ty bên ngoài.

Lãnh đạo một tổng công ty Nhà nước lớn tâm sự: “Nếu gọi lương của mấy ông tổng giám đốc, chủ tịch tập đoàn, tổng công ty Nhà nước lớn là cao thì đúng là một trò đùa”.

Ông này nói thêm, những người phải chịu trách nhiệm cho tổ chức đem lại doanh thu hàng tỷ đô, với hàng chục nghìn con người nhưng lương còn thấp hơn cả “thằng cu con” làm trưởng phòng, quản lý hơn chục người ở một công ty cổ phần có doanh thu chỉ vài chục triệu đô là điều ai cũng thấy vô lý nhưng “cơ chế nó như vậy!”.

“Tất nhiên là sự so sánh ở đây hơi khập khiễng vì cơ chế khác nhau và đặc thù cũng khác. Thế nhưng, việc cứ rêu rao là lãnh đạo công ty Nhà nước hưởng lương cao nghe rất chối”, lãnh đạo này bình luận. Tuy nhiên, ông này cũng thừa nhận: “Thu nhập thực tế sẽ không thấp và cái này thì khác với lương”.

Trong khi đó, ở cơ chế cổ phần, lương và thu nhập của các lãnh đạo công ty lớn rất khác biệt. Lương của lãnh đạo Vinamilk bình quân mỗi tháng là trên 400 triệu đồng, tức mỗi năm thu về gần 5 tỉ đồng. Đây là chưa kể đến các khoản thưởng bằng cổ phiếu mà như bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc hiện sở hữu hơn 400 tỷ đồng giá trị cổ phiếu Vinamilk.

Lương trung bình của 3 lãnh đạo trong Hội đồng quản trị FPT gồm ông Trương Gia Bình (Chủ tịch Hội đồng quản trị) , ông Bùi Quang Ngọc (Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc) và ông Đỗ Cao Bảo (Ủy viên Hội đồng quản trị) là 250 triệu đồng. Đều gấp 4 – 5 lần mức lương của các lãnh đạo tập đoàn nhà nước.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết, trong những câu chuyện giữa ông và những vị giám đốc, tổng giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước, họ thường trải lòng là mức lương như thế là quá thấp và khó sống so với vị trí của họ. Lương thấp khiến cho họ không đủ động lực để cống hiến và khiến họ cảm thấy đang lạc nhịp với tình hình thị trường.

Thường thì các công ty, tổng công ty lại phải có thêm các khoản khác để hỗ trợ thêm. Và trong một số trường hợp ông Doanh từ chối tiết lộ thông tin chi tiết, thì họ đã tìm những cách xoay sở bằng những cách “phi chính thức”. Do đó, thu nhập thực là không giới hạn và cũng không thể nào thống kê được.

Chuyên gia kinh tế này cho rằng nên có những cơ chế, những cách thức quản lý mới, vừa là giữ chân nhân tài, vừa là khuyến khích họ cống hiến, tận lực vì doanh nghiệp, chứ không thế để họ vừa làm, vừa lo lương không đủ sống mà phải tìm cách xoay sở nhiều chiều như vậy.

Lương thưởng của SCIC có tương xứng hiệu quả?

Khánh Huyền – Lê Việt/Tiền phong (Cafef.vn) – Cách đây 5-6 năm, câu chuyện về lương thưởng của lãnh đạo, cán bộ ở Tổng Công ty Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) từng khiến dư luận “dậy sóng”. Nay với đợt chia thưởng cả trăm tỷ đồng của năm 2014 và 2015 gộp lại, một lần nữa lại khiến người ta giật mình đặt câu hỏi có hay không “đặc quyền đặc lợi” tại SCIC. Phải chăng, doanh nghiệp được ưu ái?


Vinamilk là “con bò sữa” của SCIC. Ảnh: N.C.

Báo cáo quản trị của SCIC năm 2015 vừa công bố cho thấy, bình quân thu nhập của lãnh đạo và nhân viên tại đây vượt trội hẳn so với mặt bằng chung của khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Lương lãnh đạo trên trăm triệu đồng/tháng

Thống kê từ báo cáo kết quả tài chính năm 2015 (buộc phải công bố) của SCIC, 6 lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp này có thu nhập trên 1 tỷ đồng/năm. Lần lượt là: Ông Lại Văn Đạo – Tổng Giám đốc SCIC nhận hơn 1,4 tỷ đồng. Thu nhập bình quân mỗi tháng của ông Đạo là 119 triệu đồng. Bốn phó tổng giám đốc, gồm: Ông Hoàng Nguyên Học, ông Nguyễn Quốc Huy, ông Lê Song Lai, bà Nhữ Thị Hồng Liên cùng nhận mỗi người gần 1,3 tỷ đồng năm 2015; Kiểm soát viên Nguyễn Quốc Trị cũng nhận gần 1,1 tỷ đồng…

Báo cáo cũng cho thấy, năm 2015, SCIC chi tới 121 tỷ đồng để trả chi phí cho nhân viên, trong đó chi phí cho các cấp quản lý là 71,7 tỷ đồng còn nhân viên là 49,3 tỷ đồng – tăng mạnh so với năm 2014. Chi phí nhân viên bao gồm lương và các khoản trợ cấp khác. Hiện với quân số lao động hơn 270 người, ước tính chi phí cho một nhân viên của SCIC lên tới 37 triệu đồng/tháng. Năm 2014, thu nhập của nhân viên cũng đạt 30,4 triệu đồng/tháng.

Trước dấu hỏi to tướng của công luận đặt ra cho sự bất hợp lý của khoản lương thưởng khủng này, SCIC đã đăng đàn lý giải. Đại diện SCIC khẳng định việc chi trả tiền lương, thưởng cho viên chức quản lý và người lao động SCIC tuân thủ đúng quy định của pháp luật và phù hợp kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong tổng thu nhập của viên chức quản lý, có một số khoản thù lao, tiền thưởng được hình thành từ năm 2014 nhưng chi trả trong trong năm 2015.

“Điều này do quy chế tài chính của SCIC được ban hành theo Quyết định số 3369/QĐ-BTC ngày 31/12/2014 của Bộ Tài chính áp dụng cho năm tài chính 2014 trở đi nên SCIC đã gộp cả nguồn của năm 2014 và năm 2015 để chi trả”, thông tin nêu tại website của SCIC giải thích. Đồng thời phía SCIC cho biết, đã báo cáo các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vấn đề này và sẽ thông tin chi tiết khi có kết quả báo cáo.

Vì sao được ưu ái?

Khi mới ra đời, SCIC được cả “cha đẻ” là Bộ Tài chính lẫn người đỡ đầu là “Chính phủ” kỳ vọng sẽ trở thành một Temasek của Singapore – một mô hình DNNN vốn dĩ rất thành công trong các thương vụ đầu tư lớn, mang lại lợi nhuận lớn cho đất nước Singapore. Trong vài lần hiếm hoi chia sẻ khi đó với một vài tờ báo (trong đó có Tiền Phong), bà Lê Thị Băng Tâm (Thứ trưởng kiêm Chủ tịch HĐQT SCIC lúc bấy giờ) rất tâm huyết khi nói về hoạt động và tương lai của SCIC cũng như hiệu quả SCIC mang lại.

“Nếu SCIC chứng minh được DN đem vốn đi kinh doanh mang lại hiệu quả lớn cho nhà nước, sẽ không ai nói gì khi lương thưởng cao tương xứng với đóng góp. Còn nếu chỉ ngồi đó thu tô của các DN khác và hưởng lương cao thì điều đó khó thuyết phục dư luận”.Bà Phạm Chi Lan

Thời điểm đó, để tuyển người giỏi về, ít nhiều trong cơ chế lương bổng SCIC phải xin cơ chế “chiêu hiền đãi sỹ”. Tuy nhiên, theo thời gian và qua nhiều đời lãnh đạo, thực tế dường như SCIC chưa làm được những gì Chính phủ và cơ quan quản lý kỳ vọng. Dẫu kết quả kinh doanh và lợi nhuận hàng năm liên tục tăng trưởng cao nhưng một phần lớn đến từ hai nguồn: Bán phần vốn tại một số DNNN và thu cổ tức từ những doanh nghiệp khủng; thậm chí cả từ lãi tiền gửi ngân hàng hay mua trái phiếu Chính phủ.

Trả lời câu hỏi của PV Tiền Phong trong một lần trò chuyện, một lãnh đạo SCIC đã nói: Nếu bạn hỏi SCIC có giống Temasek thì tôi xin nói là SCIC có thế chân kiềng đó là vừa có cả quản lý vốn, vừa cả đầu tư.

Tuy nhiên, nếu đầu tư thời kỳ qua, không phải là không có rủi ro khi cứ 5 DN thành lập mới thì 2 DN chết ; đầu tư cho dự án thì 5 -7 năm mới có dòng tiền về. “Ngoài ra, với mảng đầu tư anh em có phần sợ trách nhiệm vì là quản lý và kinh doanh vốn của Nhà nước mà. Hiện tất cả các đoàn kiểm tra đều muốn đi phân tích để xem những dự án SCIC chưa thành công để xem xét trách nhiệm”, vị này cho biết.

Bình luận về câu chuyện lương, thưởng của SCIC, chuyên gia kinh tế – TS Lê Đăng Doanh cho rằng, SCIC trước đây từng bị phản ứng mạnh vì lương lãnh đạo, cán bộ quá cao. Sau đó, SCIC nói không có chuyện lương vượt khung, nhưng đối chiếu sổ sách rõ ràng là có, nay lại tiếp tục lùm xùm lương thưởng.

“Điều đó dẫn tới nghi vấn cơ chế giám sát như thế nào và ai chịu trách nhiệm khi xảy ra vi phạm. Nếu có vi phạm bộ chủ quản, cơ quan giám sát cũng phải chịu trách nhiệm”, ông Doanh nói. Theo ông Doanh, bản thân SCIC cũng là cơ quan quản lý, lãnh đạo DN còn xảy ra chuyện như vậy, thử hỏi ở cấp lãnh đạo trực tiếp DN sẽ thế nào, rất dễ phát sinh lạm quyền.

TS Phạm Chi Lan, cho rằng, dù nhà nước nhiều lần đưa ra các quy định khống chế lương, thưởng của lãnh đạo các DNNN, nhưng thực tế lương nhiều lãnh đạo DNNN vẫn cao vượt khung, năm nào báo chí cũng “phanh phui” 2, 3 vụ.

Theo bà Lan, với những DNNN lớn, được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, nhiều khi trả mức lương vài chục hay cả trăm triệu đồng/tháng chưa hẳn đã “xứng” với công sức người lãnh đạo bỏ ra.

Nhưng ở trường hợp của SCIC, gần như tất cả lợi nhuận mà DN có được đều đến từ sự đóng góp lãi cổ tức của các DN “khủng” như Vinamilk, FPT…. Theo bà Lan, bản thân hoạt động kinh doanh, đầu tư của SCIC mang lại được lợi nhuận cho nhà nước được bao nhiêu không chứng minh rõ ràng.

Sự “trơ trẽn” của mấy “ông kẹ” doanh nghiệp nhà nước

Mạnh Quân (Dân Trí) – Bẵng đi một thời gian, người ta tưởng đã bớt đi nhiều lời cầu khẩn, xin xỏ cho thêm “sữa”, cho thêm ưu đãi của nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước như nhiều năm trước đây. Nhưng chỉ trong vài tháng qua, lại xuất hiện những lời đề nghị xin-cho thật khó nghe từ một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn.


(Minh họa: Ngọc Diệp)

Đầu tiên là Vinalines (Tổng công ty Hàng hải VN). Vâng, vẫn lại Vinalines-một doanh nghiệp mà một thời người ta cũng coi đó là “quả đấm thép” về vận tải biển. Nhưng, đã trên 10 năm rồi, “ông kẹ” này chỉ biết thua lỗ và thua lỗ, đến nỗi, có nhiều người trong ngành vận tải biển hay gọi nó bằng cái tên Tổng công ty “hạng hai” (chứ không phải hàng hải) Việt Nam.

“Ông kẹ” này vừa đưa ra đề nghị hỗ trợ: Được tạo cơ hội cho đội tàu biển tham gia vận chuyển than- một đề nghị mà nhiều doanh nghiệp khác cho rằng, nếu chấp thuận, chẳng khác gì cho phép “sung” rụng thẳng vào mồm cho Vinalines.

Ấy thế nhưng, Bộ Giao thông vận tải cũng vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ “tạo cơ hội cho đội tàu Việt Nam (của Vinalines) tham gia vận chuyển và nâng cao thị phần hàng hoá xuất nhập khẩu” mà ý tứ chính của nó, là xin Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty trong nước thuê Vinalines tàu chuyên chở hàng. Bộ cũng không quên “nhắc” Chính phủ là đã từng chỉ đạo ưu tiên để tàu Vinalines chở hàng của doanh nghiệp Việt, nhưng vì nhiều lý do, Vinalines vẫn chưa được hưởng ưu tiên này.

Ngoài Vinalines, gần đây cũng có một số doanh nghiệp nhà nước lớn khác cũng liên tục “xin xỏ” chính sách. Ngày 6/7, Dân trí đã đưa tin Công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên (Tisco) có công văn “kêu cứu khẩn cấp” trong việc nhập khẩu sắt, thép phế liệu chỉ vì chưa được cấp giấy xác nhận bảo vệ môi trường-một yêu cầu cần thiết phải có với bất cứ doanh nghiệp nào trong việc nhập khẩu phế liệu.

Trước đó, Công ty CP Gang thép Thái Nguyên cũng gây “sóng” dư luận khi xin 1000 tỷ đồng để hỗ trợ dự án cải tạo, mở rộng nhà máy giai đoạn II, trong khi, đã có nhiều cơ sở, bằng chứng cho thấy, sau 9 năm đầu tư, dự án có qui mô lên tới 8000 tỷ đồng này gần như trong tình trạng phá sản, tiền có đổ vào bao nhiêu đi nữa cũng như “gió vào nhà trống”.

Một loạt doanh nghiệp thép của Nhà nước vừa qua cũng kêu cứu tăng thuế để bảo hộ sản xuất trong nước. Một số nhà máy đường trong nước, giá bán cao cũng xin bảo hộ, không cho nhập khẩu đường ăn (với thuế suất bằng 0%) của Hoàng Anh Gia Lai từ Lào về với giá rẻ hơn nhiều.

Tất cả những đề nghị như vậy, ở thời điểm này, khó có thể nói gì hơn, đó là những đề nghị khá “trơ trẽn” bởi sự quá vô lý của chúng. Các doanh nghiệp này, vốn dĩ đã nhận được quá nhiều ưu đãi của nhà nước: Từ mặt bằng sản xuất (đất)-thường có diện tích lớn, ở vị trí đắc địa, được vay ngân hàng (với những chính sách ưu đãi), thường được xem xét ưu đãi về thuế… Nay còn kêu gọi để xin các chính sách tạo nguồn hàng, bảo hộ sản xuất để đỡ phải chiến đấu, cạnh tranh với doanh nghiệp khác, chẳng khác gì xin Nhà nước mang “sữa ” đến, rót thẳng vào miệng.

Vấn đề là lẽ ra từ lâu, Nhà nước phải dứt khoát nói không với những lời “cầu xin” như vậy, đặt các “ông kẹ” này ra thương trường, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác. Với những ưu thế có sẵn về vốn, về đất đai, tài sản như hiện nay, doanh nghiệp nào có khả năng cạnh tranh sẽ đứng vững và vẫn phát triển mạnh như Viettel, Vinamilk…

Nhưng những doanh nghiệp nào, đã quá yếu kém, Nhà nước đã hỗ trợ, giải quyết đủ mọi chính sách như giãn nợ, giảm thuế… như đã áp dụng cho Vinalines, Vinashines … mà vẫn không thể tự chủ kinh doanh được thì cũng nên cho phá sản, tạo sân chơi cho các doanh nghiệp khác phát triển.

Nhưng nhìn vào danh sách các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước được bảo lãnh vay vốn với tổng mức vốn vay được bảo lãnh lên tới 21 tỷ USD như Bộ Tài chính mới có báo cáo, trong đó có hàng loạt doanh nghiệ p được bảo lãnh nhưng kinh doanh kém hiệu quả, chậm trả nợ như: Xi măng Hạ Long, Xi măng Thái Nguyên, Xi măng Sông Thao, Nhà máy Giấy Phương Nam… cho thấy, sự dứt khoát với việc ưu đãi cho các doanh nghiệp khu vực nhà nước vẫn chưa rõ ràng. Đó thực sự là điều rất đáng lo ngại.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s