Người dân Tây Nam Bộ thời sông chết

Posted: July 19, 2016 in Uncategorized
Tags:

Nhóm phóng viên tường trình từ VN (RFA) – Hiện tượng nước các con sông trong đồng bằng Sông Cửu Long đổi màu, trở nên trong trẻo và thiếu hẳn phù sa, dòng chảy thường bị khô cạn đã tác động đến đời sống người dân nơi đây. Nạn mất mùa và bỏ ruộng hoang vì hạn, mặn một lần nữa biến những cư dân Tây Nam Bộ thành những con chim thiên di trên chính quê hương mình. Hiện tại, số lượng người dân Tây Nam Bộ bỏ quê, bỏ ruộng vườn lên các thành phố lớn làm thuê đang ngày càng tăng cao.

� Xem thêm: Sông Thị Vải 8 năm sau ngày bị ‘bức tử’.

ttvn0718.jpgMột phụ nữ từ miền Tây lên Bình Dương bán dạo.RFA photo

Bỏ ruộng mà đi!

Một cán bộ quản lý thuộc Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh An Giang, không muốn nêu tên, chia sẻ:

   Cái giá lúa nói bèo quá nên người ta bỏ đi xa hết. Một số trong độ tuổi lao động, bỏ đi làm công nhân. Ra ngoài đó chủ yếu là lao động phổ thông.
– Cán bộ tỉnh An Giang    

“Cái giá lúa nói bèo quá nên người ta bỏ đi xa hết. Một số trong độ tuổi lao động, bỏ đi làm công nhân. Ra ngoài đó chủ yếu là lao động phổ thông. Họ có thể nhận những người không có bằng cấp bởi nhóm lao động tay chân không đòi hỏi tay nghề cho mấy. Do vậy mà người ta bỏ quê đi lên đó…”

Ông này cho biết thêm là hiện nay, số lượng người trong độ tuổi lao động của tỉnh An Giang lên các thành phố lớn làm việc là không thể thống kê được. Bởi họ đi có tính thời vụ và bộc phát sau vụ lúa Xuân Hè vừa qua. Hơn nữa, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trước đây chưa có thông lệ thống kê số người lao động trong tỉnh đi ra các tỉnh khác để làm thuê.

Nhưng ông này cũng khẳng định hầu hết những người trong độ tuổi lao động bỏ quê bỏ vườn lên phố chủ yếu làm thuê, làm các công việc đơn giản ở các khu công nghiệp, may mắn lắm thì làm công nhân với mức lương đôi ba triệu đồng mỗi tháng, không may mắn thì làm phụ hồ, phu khuân vác và bán vé số, công việc đắp đổi qua ngày. Mặc dù chẳng dư được bao nhiêu để gởi về quê nhưng họ vẫn chấp nhận đi leen thành phố kiếm cơm cho đỡ một miệng ăn trong gia đình.

Bên cạnh đó, số lượng các cô gái trong độ tuổi từ 20 đến 28 lên thành phố để làm các công việc lao động phổ thông, trong đó phụ bán quán cà phê, làm việc ở các tiệm hớt tóc thanh nữ, tiệm massage, nhà hàng và quán nhậu ngày càng tăng mạnh. Không thiếu những trường hợp nữ sinh trung học phổ thông bỏ nhà lên phố tìm việc làm và rất dễ bị rơi vào cạm bẫy nơi các thành phố lớn.

Một cán bộ tên Huy, làm việc ở một trung tâm cung ứng và giới thiệu việc làm thanh niên tại thành phố Sài Gòn, chia sẻ:

“Người ta lên làm hồ xây dựng vậy đó. Nó không tập trung vào khu nào, chủ yếu Vũng Tàu, Long Khánh, Bình Dương. Bình Dương thì đi làm công nhân, Bình Phước thì đi hái điều, Vũng Tàu thì đi làm phụ hồ, phụ quán… Nói chung không ổn định. Số nhiều cô gái lên thành phố để làm tiệm massage. Các cô tuổi từ 20 đến 28 là nhiều nhất…”

Các con sông miền Tây không còn nhiều phù sa và tôm cá như trước. RFA photo

Ông Huy cho biết thêm là hầu hết những cô gái trẻ từ các tỉnh miền Tây nếu chọn công việc lao động phổ thông thì đổ về Bình Dương, Đồng Nai là chủ yếu, bởi ở đây họ dễ kiếm được những công việc lao động tuy nặng nhọc nhưng bù vào đó là không đòi hỏi bằng cấp. Ngược lại, những cô lên Sài Gòn, ra Bà Rịa Vũng Tàu, lên Bình Phước, thậm chí ra các thành phố lớn ở miền Trung như Nha Trang, Qui Nhơn, Đà Nẵng thường theo con đường mát mẻ, nhẹ nhàng nhưng kiếm được nhiều tiền thông qua các cà phê, tiệm hớt tóc, tiệm massage…

Đắp đổi qua ngày…

Thường thì phụ nữ miền Tây đi làm nhiều việc và cũng phức tạp hơn so với đàn ông chủ yếu làm việc nặng. Hiếu, một thanh niên Cà Mau lên thành phố Sài Gòn làm phụ hồ, chia sẻ:

“Lên đây làm cũng đắp đổi qua ngày, ngày kiếm 200 ngàn đồng. Tiền thuê trọ, tiền ăn uống xăng cộ hết rồi thì cũng còn chừng vài chục ngàn đồng thôi. Ở dưới đó ruộng khô hết, lúa mất mùa, rớt giá, phải bỏ ruộng. Người nào có tiền thì mua máy bơm về bơm nước cứu lúa, người nào nghèo thì bỏ ruộng. Bây giờ khó khăn lắm!”

Hiếu cho biết thêm là trước khi lên thành phố Sài Gòn làm phụ hồ, anh có chạy xe ôm để kiếm thêm thu nhập nuôi gia đình. Nhưng kinh tế gia đình ngày càng suy sụp, cuối cùng cô vợ bỏ đi, anh nuôi con một mình. Khi đồng ruộng mất mùa, tiền kiếm được hằng ngày từ việc chạy xe ôm không đủ để gia đình anh sinh sống, anh bỏ nghề xe ôm lên Sài Gòn làm phụ hồ.

   Ở dưới đó ruộng khô hết, lúa mất mùa, rớt giá, phải bỏ ruộng. Người nào có tiền thì mua máy bơm về bơm nước cứu lúa, người nào nghèo thì bỏ ruộng.
– Hiếu, Cà Mau    

Với mức lương hai trăm ngàn đồng mỗi ngày, sau khi ăn uống, thuê phòng trọ và chi tiêu các khoản tiền điện, nước, bột giặt, anh chỉ còn dư được chưa tới 70 ngàn đồng. Nhưng Hiếu cho rằng đây là số tiền lớn, đủ để anh gởi về quê nuôi gia đình. Sau này, được chủ thầu tin cậy, cho ngủ lại công trình, Hiếu đỡ tốn khoản thuê phòng trọ và thỉnh thoảng được bồi dưỡng thêm vài trăm ngàn đồng. Với Hiếu, đây là sự may mắn lớn không phải ai cũng có được.

Khác với Hiếu, Thành, một nông dân ở An Giang lại chọn cách ra bến phà bán các loại hàng rong để được gần gia đình, anh chia sẻ:

“Các con sông bây giờ chẳng còn phù sa nữa, tất nhiên là phải bón phân hóa học thôi. Khó khăn lắm, lúa bị đe dọa nghiêm trọng.”

Theo Thành, thời gian gần đây lúa mất mùa, trong khi giá gạo rớt thê thảm đã làm cho người nông dân hầu hết các tỉnh miền Tây điêu đứng. Người bỏ nhà đi làm thuê xứ khác ngày càng nhiều. Thậm chí có nhiều nông dân bế tắc phải chọn cách bán thận để kiếm tiền trả nợ.

Hơn nữa, anh nhìn thấy mối nguy những cánh đồng chết và hạt gạo đồng bằng sông Cửu Long đang hiện dần ra trước mắt. Bởi với kinh nghiệm của một nông dân nhiều đời bám ruộng, anh hiểu rằng hạt gạo miệt Tây Nam Bộ thơm ngon không chỉ riêng nhờ vào nguồn giống mà còn phụ thuộc rất sâu vào thổ nhưỡng, độ màu mỡ của đất. Bây giờ, các con sông trở nên trong xanh và thiếu hẳn phù sa. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng đất đai thiếu phù sa, ngày càng cằn cỗi. Người nông dân buộc phải bón phân hóa học để cứu lấy năng suất cây lúa.

Dung, cô gái người Cần Thơ, lên Sài Gòn làm thuê, hiện nay cô đang phụ bán quán ăn cho một gia đình ở quận Thủ Đức, Sài Gòn, chia sẻ:

“Mình không có trình độ, không có vốn nên mọi chuyện hết sức khó khăn, lên đây đi làm vậy thôi chứ cũng không hi vọng gì bởi mọi thứ đều ế ẩm, khách cũng không có, tiền cũng không có, nhiều người bỏ phụ việc để làm chuyện khác… Rất khổ!”

Và một khi nông dân miệt Tây Nam Bộ phải phụ thuộc vào phân bón hóa học, thì điều này cũng đồng nghĩa với sự chết đi vĩnh viễn của vựa lúa đồng bằng Sông Cửu Long một thuở. Và tương lai của người nông dân nơi đây ngày càng thu hẹp lại. Thật là khó hình dung viễn cảnh của khu vực đồng bằng Sông Cửu Long khi vựa lúa nơi này trở thành chuyện quá khứ!

Sông Thị Vải 8 năm sau ngày bị ‘bức tử’

(TP) – Tám năm sau ngày Vedan (công ty của Đài Loan) xả thải ra sông Thị Vải khiến cá tôm chết sạch, dòng sông nơi đây vẫn chưa thể hồi phục.

Anh Dương Văn Sáng, ngụ tại xã Phước An (Nhơn Trạch) đầu tư 250 triệu nuôi hàu tại vàm Mương Điều, hàu bị chết thối. Bán hàu non thì chẳng ai mua.

Hàng nghìn người dân ở hai  huyện Long Thành và Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, vốn mưu sinh bằng nghề đánh bắt nay phải xa xứ làm ăn hoặc bám sông “mót” cá qua ngày…

Vedan đã phải bồi thường 120 tỷ đồng cho khoảng 5.000 hộ dân ở hai huyện này. Tiền thì dân đã nhận nhưng hệ sinh thái ở dòng sông Thị Vải vẫn “chết”.

Lay lắt qua ngày

Buổi sáng một ngày giữa tháng 7, mặt sông Thị Vải lặng như tờ. Thời điểm “sóng yên biển lặng” như thế, 10 năm trước ghe thuyền tấp nập đánh bắt nhưng nay chỉ lác đác vài ba chiếc.

Chèo chiếc ghe chở đầy ngư cụ đánh bắt cá vào bến, anh Lê Trung Chánh ở ấp 1, xã Phước Thái, huyện Long Thành rầu rĩ, bởi người vợ đang ngồi đợi sẵn trên bờ đưa cá ra chợ bán. Tuy nhiên, chiếc thùng nhựa chứa cá của anh Chánh chỉ lèo tèo vài chục con. Chị Hai, vợ anh Chánh vội đổ mớ cá bên trong ra rổ rồi ngồi phân loại, đưa lên cân. “Cả tôm và cá được 2kg”- chị Hai khoe với chồng giọng trầm buồn.

Để có được số cá này, anh Chánh phải ra sông Thị Vải từ chiều hôm trước đặt lợp – một ngư cụ phổ biến nơi đây. Đến 4 giờ sáng hôm sau anh lại chèo thuyền đi tháo lợp. “Cá, tôm trên sông giờ không còn bao nhiêu” – anh Chánh than.

Từ nhỏ, bố mẹ anh Chánh cũng bám sông Thị Vải kiếm sống, nuôi con bằng nghề đánh bắt thủy sản. Lớn lên, anh Chánh lại tiếp tục nghiệp của mẹ cha. Nhưng rồi sông Thị Vải ngày càng ô nhiễm, cá tôm không còn, anh Chánh bỏ ghe lên bờ đi làm thuê kiếm sống hơn chục năm. Sau vụ Nhà máy Vedan bị phát hiện xả thải, anh Chánh được đền bù hơn chục triệu đồng, thấy vài người dân trong vùng trở lại đánh cá, anh cũng vay mượn thêm tiền mua ghe, sắm ngư cụ đi làm. “Vốn ít, nên không dám sắm ghe máy, mà đầu tư ghe máy trong khi sông đang “chết” như vậy sợ thu không đủ bù chi” – vợ anh Chánh góp chuyện.

    Bà Thành ở ấp 1B, xã Phước Thái cho hay, nghề thì phải làm chứ sản lượng thu mua không được bao nhiêu. Chỉ về hướng nhà máy Vedan đang phun khói, bà Thành nói: “Mùi vẫn còn hôi lắm. Nhất là vào đêm khuya hay mưa lớn thì mùi hôi càng nồng nặc”.   

Hồi tưởng về một thời cá tôm trù phú và về nghề đánh cá trên sông Thị Vải, anh Trần Trung Tính, một người dân ở ấp 1, xã Phước Thái buồn rầu. Anh kể, ngày trước ở đây có cả một xóm chài. Nhưng sau khi sông Thị Vải ô nhiễm vì Vedan xả thải, người dân bỏ nghề tứ tán đi làm thuê. “Nhiều người được bồi thường từ vài triệu đến vài chục triệu nhưng chỉ lèo tèo vài người trở lại với nghề đánh bắt, nuôi trồng. Phần còn lại đi làm công nhân, làm thuê và lên Sài Gòn mưu sinh” – anh Tính nói.

Từng đầu tư cả trăm triệu đồng để đánh bắt nơi đây nhưng từ sự cố Vedan, gia đình anh Tính đã bỏ nghề. “Sau này, tôi được nhận đền bù 20 triệu đồng sắm lại chiếc ghe, lưới trở lại sông kiếm sống qua ngày nhưng cũng thiếu trước hụt sau” – vừa thu gom lưới, anh Tính vừa nói chuyện.

Anh Nguyễn Văn Thắng ở xã Phước Thái cho biết: “Trước đây sông Thị Vải có nhiều loại cá lớn, có cả tôm hùm. Thời sông bị ô nhiễm cá chết nổi đầy sông”. Để bám nghề, anh Thắng thuê lại mấy đùng tôm từ lâu bị bỏ hoang do ô nhiễm để cải tạo lại. Số tiền hơn 10 triệu đồng nhận bồi thường từ Vedan, anh Thắng mua chiếc ghe hàng ngày thả lưới. Cá tôm nhỏ thì anh thả vào đùng nuôi, số cá lớn thì bán kiếm tiền mua gạo.

Tự “bơi”

Xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch có trên 200 ha diện tích mặt nước. Trước đây chủ yếu được nông dân nuôi cá, nuôi tôm. Một thời sông nước bị ô nhiễm nhiều diện tích bị bỏ hoang. Sau thời kỳ “hậu Vedan” nhiều nông dân đầu tư trở lại nuôi trồng thủy sản. Nhưng liên tục xảy ra tình trạng tôm chết hàng loạt, nhiều hộ phải “treo” ao, không dám đầu tư. Ông Bảy Trung, một nông dân ở xã Long Thọ cho hay thời gian qua, cứ thả đợt tôm nào là chết đợt đó. Có lúc gần đến thời điểm thu hoạch, tôm chết nổi trắng ao nhưng không biết vì sao?

Sau đợt nhận tiền đền bù từ Công ty Vedan, có bao nhiêu người trở lại với nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy sản? Bà Phạm Thị Kiều, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phước Thái, huyện Long Thành nói rằng “không nắm được do mới nhận công tác”. Ông Trần Tiến Nhạn, Chủ tịch Hội Nông dân xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch cho biết đã có 300 hộ dân địa phương trở lại với nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Tuy nhiên, theo ông Nhạn, lượng cá tự nhiên rất hiếm vì sông Thị Vải vẫn còn ô nhiễm.

Trong khi đó, ông Nguyễn Thái Dũng, Trưởng ban tổ chức Hội Nông dân tỉnh Đồng Nai cho biết sau khi Công ty Vedan đền bù, tỉnh Đồng Nai đã chi trả hết tiền cho các hộ nông dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường. “Tiền đền bù nhận được, nông dân tự bố trí sản xuất. Tỉnh không có chính sách nào khác”- ông Dũng nói.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s