Ối làng nước ơi, ông Trọng đã nhắc đến Cá Chết rồi đây!

Posted: July 19, 2016 in Uncategorized
Tags:

Tễu Blog – Lần đầu tiên sau mấy tháng trời, ông Trọng mở mồm nhắc đến hai chữ “Cá chết”. Cá chết, người chết không lo, không thương, không thăm, không lên tiếng, chỉ lo đến cái bầu cử (mặc dù là đã đảng cử, dân bầu rồi, sắp sẵn hết cả rồi).

� Xem thêm: Rộ thông tin ‘nợ’ tiền hỗ trợ cá chết ở Quảng Trị + Nằm nghe biển… thở dài + Chuyển nghề cho ngư dân: Hãy xem Công đoàn nhà nước vô tích sự ra sao!.


Đinh Tấn Lực’s photo

Bảo Trân (NLĐO) 18/07/2016 – Tổng Bí thư: Sự cố cá chết gây khó khăn công tác bầu cử – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cuộc bầu cử diễn ra có nhiều thuận lợi song sự cố cá chết bất thường ở miền Trung, sự chống phá của các lực lượng thù địch… đã gây không ít khó khăn cho công tác bầu cử. (…)

Điều đáng lưu ý, theo Tổng Bí thư, là cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh đất nước ta có nhiều thời cơ, thuận lợi, đồng thời có không ít khó khăn, thách thức. Đại hội XII của Đảng vừa kết thúc thành công tốt đẹp, tình hình kinh tế – xã hội tiếp tục ổn định, phát triển. Nhiều quy định mới của Hiến pháp và các luật liên quan mới được ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng, thuận lợi cho cuộc bầu cử.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư cho biết: “Tình hình hạn hán nghiêm trọng ở các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở ĐBSCL; sự cố hải sản chết bất thường ở một số tỉnh ven biển miền Trung; sự chống phá quyết liệt của các lực lượng thù địch… đã gây không ít khó khăn cho công tác bầu cử”.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát sao của trung ương, sự vào cuộc tích cực của Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG); sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể nhân dân; sự chủ động tích cực, trách nhiệm của các tổ chức phụ trách bầu cử; tinh thần làm chủ và sự ủng hộ của nhân dân, cùng với việc thực hiện công khai, minh bạch trong từng bước tiến hành theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử.

Đặc biệt, chúng ta đã làm tốt công tác nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ, cơ bản đã giới thiệu được những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. (…)

Rộ thông tin ‘nợ’ tiền
hỗ trợ cá chết ở Quảng Trị

(TNO) – Trước thông tin về việc chính quyền địa phương “khất nợ” một khoản tiền hỗ trợ người dân liên quan đến vụ cá chết, Thanh Niên đã liên hệ với những người có trách nhiệm để làm rõ.


Tàu cá nằm bờ, ngư dân ven biển Quảng Trị thực sự rất khó khăn, cần sự hỗ trợ

Chiều 16.7, trên mạng xã hội Facebook đã chia sẻ thông tin tại thôn Cang Gián (xã Trung Giang, H.Gio Linh, Quảng Trị) ngư dân nhận tiền hỗ trợ của chính quyền địa phương cho vụ cá chết hàng loạt ven biển nhưng còn thiếu 700.000 đồng/hộ (thay vì được nhận 5 triệu đồng/hộ thì chỉ nhận 4,3 triệu đồng/hộ).

Chiều cùng ngày, ông Trần Xuân Tưởng, Chủ tịch UBND X.Trung Giang cho hay, số tiền này UBND xã mới nhận từ Kho bạc Nhà nước vào ngày 14.7 và đã phát ngay trong ngày cho bà con vì biết đây là việc không thể chậm trễ.

Về việc “nợ” tiền dân, ông Tưởng cho biết là do huyện cấp tiền chưa đủ chứ không có khuất tất nào hết.

“Hiện, cả xã còn khoảng 320 hộ có thuyền gắn động cơ công suất nhỏ hơn 90CV đang bị thiếu 700.000 đồng, còn toàn bộ thuyền không gắn động cơ đều đã được nhận đủ tiền là 3,5 triệu đồng. Ngay tại lúc phát tiền chúng tôi đã giải thích đầy đủ cho bà con và hứa là kiểu gì cũng cấp đủ cho bà con, không hiểu sao lại có những thắc mắc này. Chiều nay, chúng tôi sẽ tiếp tục sử dụng hệ thống loa phóng thanh để nói lại lần nữa cho bà con hiểu về câu chuyện này”, ông Tưởng nói.

Ông Trương Chí Trung, Chủ tịch UBND H.Gio Linh cũng giải thích: “Tỉnh đã ban hành Quyết định về hỗ trợ ngư dân bị ảnh hưởng, trong đó, trong đó đối với thuyền gắn động cơ dưới 90CV đánh bắt gần bờ bị ảnh hưởng thì hỗ trợ 5 triệu đồng/chiếc, thuyền không gắn động cơ thì hỗ trợ 3,5 triệu đồng/chiếc. Thời gian đầu do chưa xác định chính xác số tàu thuyền bị ảnh hưởng nên tỉnh tạm ứng trước cho huyện hơn 2,5 tỉ đồng. Sau khi huyện phối hợp với xã rà soát, xác định lại thì số tàu thuyền thuộc diện hỗ trợ là 625 chiếc (465 tàu gắn động cơ dưới 90CV và 160 thuyền không gắn động cơ), với nhu cầu tổng số tiền hỗ trợ là hơn 2,8 tỉ đồng”.

Theo ông Trung để kịp thời hỗ trợ cho bà con, huyện đã lập tức quyết định phân bổ đợt 1 cho bà con mức 4,3 triệu đồng/tàu cho tàu gắn động cơ dưới 90CV, còn tàu không gắn động cơ thì nhận đủ 3,5 triệu đồng/chiếc. Đồng thời trình tỉnh cấp bổ sung số tiền còn lại. Ngay sau khi nhận khoản tiền này, huyện sẽ cấp đợt 2 cho dân.

Ông Hà Sĩ Đồng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, Trưởng ban chỉ đạo khắc phục sự cố cá chết tỉnh Quảng Trị cho biết thêm: “Vì là hỗ trợ khẩn cấp nên đúng là tiền được từng nào thì làm từng đó. Khoản này là khoản hỗ trợ chứ không phải là đền bù. Nếu chưa đủ thì sẽ bổ sung sau. Đó là điều chắc chắn”.

Nằm nghe biển… thở dài

Quang Cường (Ba Sàm) Theo Khám Phá – Có đi về biển, tận mắt nhìn những con thuyền đang “đắp chiếu ngủ mê”, nghe những ngư dân trải lòng thì mới cảm nhận được những con “sóng ngầm” đang ngày đêm cuộn trào trong lòng người và lòng biển.


Lão ngư Phạm Văn Hận: “Nhiều đêm nằm trong nhà cứ lắng tai nghe tiếng sóng biển,
trằn trọc nhớ biển, nhớ cá, thèm ra khơi đến không ngủ được”. Ảnh: KP

Hơn ba tháng, kể từ khi biển bị đầu độc bởi nhà máy Formosa, cũng đã đủ để biết cuộc sống của người dân miền biển sẽ như thế nào khi biển không còn là nơi ôm ấp, vỗ về, nuôi dưỡng họ – những con người được sinh ra từ biển. Giờ đây, trước mắt họ là một trời lo âu, những trở trăn khi sắp phải đưa ra một sự lựa chọn vô cùng khó khăn: Tiếp tục bám biển hay là bỏ biển?

Đêm nằm nghe biển… thở dài

Đến đầu xóm Xuân Thắng (xã Kỳ Xuân, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) hỏi thăm về những gia đình đi biển, ai cũng chỉ đến nhà ông Phạm Văn Hận, là lão ngư có kinh nghiệm và thâm niên đi biển được xếp vào hạng nhất nhì của xã Kỳ Xuân.

Vừa vào cuộc trò chuyện, ông Hận nheo nheo mắt chỉ tay ra phía biển, nơi chiếc tàu có trọng tải 40 tấn, có thể đánh bắt xa bờ, đang dập dềnh lặng lẽ cách bờ vài chục mét. Ông Hận buồn rầu chia sẻ “Ba tháng nay, từ khi cá chết do biển bị nhiễm độc thì cả mấy cha con chúng tôi không đi biển nữa, vì đi gần bờ thì sợ cá tôm bị nhiễm chất độc, mà đi xa bờ thì đánh bắt được về cũng không ai mua, vì người dân không ai còn dám ăn hải sản do chúng tôi mang về”.

Từ khi “biển chết”, ông Hận cùng 4 người con trai không còn đi biển, cuộc sống lâm vào khó khăn như bao gia đình ngư dân khác ở vùng biển Hà Tĩnh này. Không có thu nhập, mọi chi tiêu đều phải dè xẻn từng đồng, mặc dù có gạo của chính quyền hỗ trợ nhưng cũng không duy trì được lâu đối với mọi gia đình ngư dân.

Buông tiếng thở dài, ông Hận nói: “Nếu không có sự cố cá chết thì vào thời điểm này là mùa làm ăn bội thu của của chúng tôi. Cứ nghĩ đến những đàn cá tung tăng ngoài khơi xa mà nóng ruột. Nhiều đêm nằm trong nhà cứ lắng tai nghe tiếng sóng biển, trằn trọc nhớ biển, nhớ cá, thèm ra khơi đến không ngủ được”.


Những con thuyền phơi mình trên bãi biển Kỳ Xuân
không biết đến bao giờ mới lại được ra khơi. Ảnh: KP

Bao giờ lại được ra khơi?

Cách Kỳ Xuân khoảng chừng 50km theo đường bờ biển là xã Kỳ Lợi (thị xã Kỳ Anh), nơi đây cũng có hàng trăm ngư dân đang lâm vào khốn khó bởi họ cũng phải gác mái chèo, đưa thuyền lên bờ phủ bạt chờ ngày biển sạch để ra khơi.

Khi chúng tôi đến nhà, ông Nguyễn Xuân Lợi (xóm Ba Đồng, xã Kỳ Lợi) đang chơi cùng đàn cháu nhỏ. Nhìn bề ngoài thì có vẻ như người đàn ông 66 tuổi này đang nhàn hạ, nhưng thực sự thì ông cũng không biết làm gì vào thời gian này, khi nghề nghiệp của ông từ bao đời nay là đi biển, nhưng hiện tại ông phải cất thuyền, cất lưới.

Trước đây ông Lợi cùng các con trai đi biển bằng thuyền 8CV đánh bắt gần bờ, hải sản là nguồn thu nhập chủ yếu cho cả đại gia đình. Nhưng đã hơn ba tháng nay, từ khi cá biển chết do nhiễm độc, gia đình ông Lợi cũng như phần lớn ngư dân ở đây đều nghỉ đánh bắt, cuộc sống ngày càng thiếu thốn vì không có thu nhập.

Với những thanh niên, trai tráng ở xóm này, dù có sức khỏe hơn ông Lợi cũng cùng chung cảnh ngộ là nằm nhà nghe biển “réo”. Có một số người vì cuộc sống quá thiếu thốn đành phải đi lặn ven bờ bắt sò, mỗi ngày bắt được vài cân đem bán cho quán ăn và nhà hàng nhưng cũng rất khó bán vì hiếm người dám ăn, nếu bán được cũng với giá “bèo bọt” không đủ mua gạo ăn qua ngày.

“Mong muốn nhất của chúng tôi bây giờ là biển sớm trong sạch trở lại để ra khơi. Chúng tôi đã bao đời bám biển, nay không thể làm nghề gì khác. Nhưng bây giờ cũng không biết khi nào biển mới sạch, cũng chưa có dự tính như thế nào cho tương lai”, ông Lợi buồn rầu nói.

Ông Nguyễn Văn Nhật, một ngư dân khác ở đây cũng có cùng suy nghĩ “Khó chịu lắm rồi chú ơi, không biết bao giờ mới lại đi biển được”. Đó là tâm trạng chung của những người đàn ông miền biển ở 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng “biển chết”.


Chị Đậu Thị Vân (xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh): “Một mình nuôi 4 đứa con bằng nghề buôn hải sản,
nay ngư dân không ra khơi, hải sản không ai dám ăn, tôi cũng hết đường mưu sinh”.

Sự khó khăn, bế tắc này không chỉ đến với các gia đình ngư dân mà còn đeo bám những gia đình kinh doanh, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ ẩm thực, du lịch. Hơn ba tháng nay, họ cũng trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng của việc biển bị đầu độc.

Nắm bắt được sự khó khăn của người dân, các cấp chính quyền đã nhanh chóng có sự hỗ trợ về cuộc sống trước mắt, nhưng về sinh kế lâu dài thì đang là vấn đề nan giải cho cả người dân và chính quyền.

Chính phủ cũng đã có chủ trương chuyển đổi ngành nghề với một số phương án cho người dân có nhu cầu và điều kiện phù hợp. Ví dụ như sẽ hỗ trợ lãi suất vay vốn để ngư dân đóng tàu lớn đánh bắt xa bờ; tạo điều kiện thuận lợi và nguồn vốn vay cho người dân phát triển chăn nuôi, trồng trọt; cho người dân vay vốn để xuất khẩu lao động…

Tuy nhiên, để áp dụng từ chủ trương đến thực tiễn thì vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc khó tháo gỡ. Vấn đề cốt lõi là ngư dân chỉ quen với nghề biển, thích nghi với môi trường biển, họ rất khó để làm quen với nghề khác và khó thích nghi môi trường lao động khác.


Ông Nguyễn Xuân Lợi (xã Kỳ Lợi) có 6 người con và 13 đứa cháu
đang phải mua nợ gạo để ăn, chờ bồi thường của Formosa. Ảnh: KP

Trước những gợi ý này, ông Phạm Văn Hận (xã Kỳ Xuân) nói: “Cha con tôi thì không biết làm nghề gì ngoài đi biển, nhưng bây giờ để tiếp tục đi biển thì phải có tàu lớn để đánh bắt xa bờ mà tàu của tôi hiện tại là tàu vỏ gỗ chỉ miễn cưỡng đi xa bờ khi thời tiết tốt thôi, sóng lớn không đi được. Tôi cũng đã đăng ký vay vốn đóng tàu vỏ sắt theo chủ trương của Nghị định 67 của Chính phủ nhưng không được, vì đóng tàu vỏ sắt cần vay vốn khoảng 12 tỷ đồng, mà theo chủ trương thì người vay phải đóng vốn đối ứng là 600 triệu đồng, chúng tôi không thể có được. Giờ phải chờ chính sách hỗ trợ khác của nhà nước”.

Nếu được nhà nước hỗ trợ thuận lợi thì những người có mong muốn như ông Hận sẽ tiếp tục ra khơi bám biển. Nhưng với những người không đủ điều kiện, trước nay chỉ đánh bắt xa bờ thì vẫn mãi loay hoay với chuyện đổi nghề.

Chị Đậu Thị Vân (thôn Ba Đồng, xã Kỳ Lợi) lại có hoàn cảnh éo le hơn. Chị góa chồng, nuôi 4 đứa con, trước đây chị làm nghề thu mua hải sản từ cảng cá Kỳ Phương (thị xã Kỳ Anh) để buôn, thu nhập cũng đủ nuôi con, nhưng từ khi biển bị nhiễm độc, chị không buôn bán được, khó khăn chồng chất vì không có thu nhập.

“Giờ tôi cũng đã 50 tuổi, nghề nghiệp không có, đất đai cũng không, đi xuất khẩu lao động thì không ai nuôi con. Giờ chẳng biết làm gì ngoài việc hàng ngày ra âu thuyền thu mua vài cân mực, ghẹ họ đi lặn về, ai mua thì bán lại kiếm ít đồng tiền lời mà khó khăn lắm”.

Chiều muộn, bãi biển Kỳ Xuân giữa tháng 7 vắng lặng với mấy con thuyền được che phủ nằm sóng soài trên bãi cát, hoặc chông chênh dưới gốc phi lao, chúng tôi kết thúc một ngày với những ngư dân “mắc cạn”.

Cùng ăn bữa cơm đạm bạc, cùng trò chuyện tâm tình với ngư dân, và cũng nhờ họ mà tôi cảm nhận được tiếng thở dài của biển những ngày qua.

Chuyển nghề cho ngư dân: Hãy xem Công đoàn nhà nước vô tích sự ra sao!

Kiều Phong (VNTB) – Từng đó sự thật cho thấy ở Việt Nam, công đoàn quốc doanh bênh vực giới chủ là nhà nước nhiều hơn hẳn so với việc bảo vệ lợi ích của công nhân lao động.

Điều kiện tự thân để cá nhân chuyển đổi nghề

Thảm họa Formosa tàn phá môi trường biển miền trung Việt Nam là chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là ngư dân, những người bỗng dưng không còn công ăn việc làm. Nhà nước hứa đại khái là sẽ chuyển đổi nghề nghiệp cho họ, hoặc ưu tiên xuất khẩu lao động.

Nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn là một học giả tầm thế giới am hiểu sâu sắc về diễn tiến lịch sử triết học và triết học chính trị nói riêng. Ông đã quan sát nhiều xã hội và từ đó rút ra những điều kiện cần để một cá nhân chuyển đổi nghề nghiệp. Ông đặc biệt chú ý đến quan điểm của các triết gia lớn là Humboldt, Hegen và Immanuel Kant. Theo ông, điều kiện cần để dễ dàng chuyển nghề là có được một sự giáo dục cần thiết, được khai triển từ khái niệm “Buildung”  trong tiếng Đức mà tiếng Anh dịch là “Education”, hoặc sát nghĩa hơn, “Formation”. Buildung là tiến trình đi từ bản thể sang chủ thể ( theo Hegel). Nếu trước đây, giáo dục gắn liền với dạy dỗ và truyền đạt kiến thức theo cách hiểu thông thường thì từ Humboldt, nó mang nặng yếu tố tự chủ, tức là sự tự đào luyện nhân cách . Humboldt minh họa giản dị như sau: “ Có những kiến thức nhất định nào đó là điều ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, lại càng phải có sự đào luyện những tâm thế và tính cách không ai được phép thiếu cả. Mỗi người rõ ràng chỉ có thể trở thành một thợ thủ công, một doanh nhân, một binh sĩ hay công chức tài giỏi, khi người ấy trước hết là một con người và là một công dân được khai minh, tốt lành và đàng hoàng, độc lập với nghề nghiệp đặc thù của mình. Có được sự giáo dục cần thiết cho công việc này rồi, thì người ấy về sau sẽ dễ dàng học lấy một nghề và bao giờ cũng có thể tha hồ thay đổi nghề nghiệp như vẫn thường xảy ra trong cuộc sống”.

Humboldt là cây đại thụ được cả thế giới ngưỡng mộ, thành quả cải cách giáo dục của ông đã vực dậy nước Đức trở lại hàng siêu cường (sau khi thua cuộc trong chiến tranh với Pháp), tư tưởng giáo dục của ông ảnh hưởng tới mô hình và nguyên lý tổ chức đại học , và do đó là tổ chức xã hội trên toàn thế giới một cách sâu sắc. Vì vậy, có thể hay không thể chuyển đổi nghề nghiệp  cho người Việt Nam hay không,  nên đối chiếu với nguyên lý của Humboldt.

Ngư dân Việt Nam đã nhận được sự giáo dục như thế nào? Hầu hết ngư dân học chương trình học phổ thông ngắn hơn những tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam (không vì thế mà ta nói rằng họ nhận thức về xã hội kém hơn). Cộng thêm việc chương trình giáo dục dưới đại học của Việt Nam mang nặng mục đích tuyên truyền cho đảng phái, nhà trường không giúp học sinh trở thành “chủ thể” mà biến thành  “bản thể”- cụ thể là một thứ “con người xã hội chủ nghĩa” rất mơ hồ (đến nỗi cho đến nay thấy lứa nào xuất hiện). Nghĩa là khi ngư dân còn là học sinh, họ không được giáo dục để có khả năng tự chủ và tự đào luyện nhân cách. Từ nhỏ ngư dân không được khai minh, càng không có được những hành trang độc lập với nghề nghiệp của mình.

Vì vậy xét trên quan điểm triết học của Humboldt, ngư dân Việt Nam không hề có điều kiện để dễ dàng chuyển đổi sang những nghề khác.

Công đoàn nhà nước làm gì cho chuyển nghề?

Thế giới phương Tây thực hành chứng tỏ rằng, để có được một nghề nghiệp ổn định trước những biến động của thời cuộc thì người lao động phải tham gia công đoàn. Một đất nước thực sự có công đoàn đúng nghĩa thì số lượng những nghiệp đoàn độc lập hẳn phải rất đông đúc và đa dạng. Thế nhưng số lượng nghiệp đoàn của  Việt Nam hiện nay thì quá ít so với nhu cầu, chất lượng của các nghiệp đoàn thì thua cả so với các làng nghề thời triều đình phong kiến.

Trên giấy tờ, Việt Nam cũng có công đoàn, nhưng công đoàn này lại đi theo chủ trương của  nhà nước, mà nhà nước lại nắm giữ phần lớn tiền bạc của dân tộc thông qua những công ty quốc doanh. Nghĩa là công đoàn của Việt Nam bảo vệ vừa bảo vệ lợi ích cho giới chủ, vừa nói rằng mình bảo vệ lợi ích cho người lao động. Điều này hết sức phi logic, vì tinh thần của nghiệp đoàn hay công đoàn  là sinh ra để giúp người lao động chống lại giới chủ ngõ hầu đòi được các quyền lợi chính đáng. Chủ tịch tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và chủ tịch các công đoàn thành viên hết thảy đều là do đảng- nhà nước chỉ định từ trên xuống, không có ai là do công nhân bầu từ dưới lên. Từng đó sự thật cho thấy ở Việt Nam, công đoàn quốc doanh bênh vực giới chủ là nhà nước nhiều hơn hẳn so với việc bảo vệ lợi ích của công nhân lao động.

Với một loại công đoàn như vậy, ngư dân sau khi chuyển đổi nghề nghiệp không thể yên tâm đi vào công ty và doanh nghiệp. Biểu hiện là cho đến bây giờ, chưa có văn bản chính thức nào đưa ra được con số thể hiện nhà nước đã giúp chuyển đổi nghề thành công cho bao nhiêu phần trăm ngư dân là nạn nhân của Formosa.

Xuất khẩu lao động có khả thi?

Thời Pháp thuộc, cũng như thời chính quyền Sài Gòn, con dân Việt Nam không cần phải tha hương nơi xứ người để cầu thực như ngày hôm nay. Chính sách xuất khẩu lao động giá rẻ của chính phủ Hà Nội từ lâu đã bị nhân dân phản đối. Ngày hôm nay nhà nước lại đưa ra chính sách ưu tiên xuất khẩu lao động cho ngư dân chịu thảm họa Formosa Hà Tĩnh.

Ở nước ngoài, thành phố nào có lao động Việt là nơi đó có ăn trộm và cư xử thiếu văn hóa, cảnh sát những nước đó luôn ghi nhận người Việt chiếm tỉ lệ lớn trong danh sách người cư trú bất hợp pháp nhiều nhất. Lý do là, sau khi làm một thời gian, công nhân Việt không được gia hạn hợp đồng. Nhưng nếu quay về Việt Nam thì đường sống quá khó khăn, họ đành phải sống chui lủi và trở thành dân cư bất hợp pháp ở xứ người.

Cộng với một thứ được gọi là cách mạng kỹ thuật ngày nay, những phát minh vô tình làm cho việc làm càng trở nên khan hiếm. Thanh niên các nước châu Âu cũng đang thất nghiệp rất nhiều, vì vậy cánh cửa xuất khẩu lao động đang khép lại và trở nên quá hẹp so với người của các nước nghèo, trong đó có cả Việt Nam. Hiện nay trên thế giới, người ta không còn tranh nhau miếng ăn nữa, người ta đang tranh nhau việc làm. Nhiều nước châu Âu đang mơ ước dân số có việc làm nộp thuế nuôi 6-8% dân số thất nghiệp còn lại. Nước ngoài không hề thiếu lao động. Do đó, nếu nhà nước Việt Nam phát ngôn rằng ưu tiên xuất khẩu lao động cho những ngư dân là nạn nhân của Formosa thì đó chỉ là động tác mị dư luận mà thôi.

Một chế độ cộng sản ngay cạnh Việt Nam là Trung Quốc cũng đã gặp bài toán khó này. Việc khai thác than để phát triển kinh tế quá mức chịu đựng dẫn đến thảm họa môi trường, dẫn đến việc nhà nước Trung Quốc buộc phải mạnh tay cắt giảm sản xuất ngành này. Vì vậy nhà nước phải chuyển đổi nghề cho 1,8 triệu công nhân ngành than mất việc, nhưng dự án chuyển đổi đã thất bại thảm hại. Các phóng sự phản ánh đúng thực trạng được quay bởi chính các phóng viên truyền hình nhà nước Trung Quốc. Nguyên nhân chuyển đổi thất bại có lẽ cũng vì Trung Quốc không có công đoàn độc lập.

Chúng ta hãy chờ xem nhà nước Việt Nam có xuất bản một phóng sự hay một thống kê  đúng sự thật hay không.

Tham khảo: “Dao sắc mới cắt được mọi thứ”. Buildung: Cuộc phiêu lưu của một khái niệm – Bùi Văn Nam Sơn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s