‘Ông lớn’ nhà nước: Đầu tư ngàn tỷ rồi lỗ trắng tay

Posted: July 20, 2016 in Uncategorized
Tags:

Lương Bằng (VNN) – Hàng loạt “ông lớn” doanh nghiệp nhà nước (DNNN) dính phải các bê bối về nợ khó đòi, làm ăn thua lỗ, khả năng mất trắng khoản vốn đã đầu tư.

� Xem thêm: Tốc độ nợ công tăng nhanh + Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối lợi lớn, người tiêu dùng ra rìa.


Nhiều khoản đầu tư của các DN có vốn
nhà nước kém hiệu quả, lãng phí. Ảnh: L.Bằng

Thua lỗ nghìn tỷ: Vinalines đứng đầu

Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về tình hình tài chính, các hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại 234 DN thuộc tập đoàn, tổng công ty Nhà nước năm 2014 cho thấy, có 33/38 Tập đoàn, tổng công ty, công ty kinh doanh có lãi.

Trong đó đứng đầu là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) với lợi nhuận sau thuế năm 2014 lên đến hơn 43.800 tỷ đồng; Mobifone gần 5.100 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam gần 4.400 tỷ đồng; Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam hơn 2.500 tỷ đồng; Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TP.HCM trên 1.300 tỷ đồng,…

Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng, 5/38 tập đoàn, tổng công ty, công ty kinh doanh thua lỗ, mà đứng đầu là Vinalines với số lỗ khủng lên đến gần 3.500 tỷ đồng. Riêng con số này đã gấp nhiều lần số lỗ của 4 đơn vị khác cộng lại.

Kiểm toán Nhà nước cũng cho biết, còn nhiều đơn vị đầu tư không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp. Trong đó, cái tên Vinalines liên tục được nhắc đến. Có tới 51/63 đơn vị có vốn đầu tư của Công ty mẹ Vinalines thua lỗ hoặc hiệu quả thấp, cổ tức thu được năm 2014 chỉ vỏn vẹn 0,46% vốn đầu tư.

Hay Công ty mẹ Tổng công ty cơ khí xây dựng (COMA), lợi nhuận được chia năm 2014 từ các công ty con chỉ bằng 1,05% vốn đầu tư. Trong 10 công ty con thì có tới 6 công ty thua lỗ với 4 công ty mất vốn chủ sở hữu là COMA 3, COMA 7, COMAEL, Cổ phần Khóa Minh Khai.

Cơ quan kiểm toán không quên “điểm danh” việc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư 800 tỷ đồng vào Oceanbank và ngân hàng này bị mua lại với giá không đồng.

Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra nhiều “ông lớn” nhà nước góp vốn vào các DN có tình trạng tài chính xấu, có nguy cơ ngừng hoạt động hoặc phải giải thể. Trong đó, có những khoản đầu tư vào các DN có số lỗ lớn hơn cả vốn đầu tư của chủ sở hữu.

Chẳng hạn, Tổng công ty Sản xuất – Xuất nhập khẩu Bình Dương TNHH MTV đầu tư vào Công ty Cổ phần Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hạnh Phúc. Đơn vị này có số vốn chủ sở hữu là gần 210 tỷ đồng nhưng lỗ đến trên 852 tỷ đồng.

Nhiều khoản đầu tư vào các đơn vị có lỗ lũy kế lớn. Chẳng hạn PVN rót vốn vào Nhà máy xơ sợi Đình Vũ Hải Phòng (PVTex) lỗ gần 1.500 tỷ đồng,…

Khi góp vốn vào các công ty liên doanh, liên kết, các “ông lớn” nhà nước cũng không thu được nhiều thành quả.

Tổng công ty Lâm nghiệp có 6 công ty liên doanh, liên kết thì lỗ lũy kế 54,7 tỷ đồng và 657.218 USD; Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) có tới 15/19 công ty liên doanh, liên kết lỗ lũy kế hơn 94 tỷ đồng; 3/12 khoản đầu tư dài hạn khác lỗ lũy kế gần 70 tỷ đồng.

Công ty Cổ phần Mía đường La Ngà đầu tư chứng khoán trái quy định, không hiệu quả. Đầu tư chứng khoán chỉ do cá nhân Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc quyết định, không thông qua Hội đồng quản trị theo quy định. Kết quả đầu tư chứng khoán từ 24/9/2007 đến 31/12/2014 lỗ trên 18 tỷ đồng.

Măc kẹt với nợ khó đòi

Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra, nhiều DN nhà nước quản lý nợ chưa chặt chẽ, dẫn đến nợ phải thu quá hạn cùng hàng nghìn tỷ đồng bị liệt vào dạng nợ khó đòi.

Cụ thể, Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) có khoản nợ khó đòi lên tới hơn 376 tỷ đồng (chiếm 25,7% ), hay Văn phòng Tổng công ty Vinataba, Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2/9, COMA 18, COMAEL,… có số nợ khó đòi lên tới vài chục tỷ đồng mỗi đơn vị. Riêng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng bị “mắc kẹt” khoảng 300 tỷ đồng nợ khó đòi.


Những nhà máy “đắp chiếu” sau khi đầu tư nhiều
nghìn tỷ gây bức xúc trong dư luận. Ảnh: L.Bằng

Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra một số khoản cho vay, bảo lãnh tiềm ẩn nguy cơ khó đòi, mất vốn. Công ty mẹ – Vinalines cho 3 công ty con vay theo chủ trương của Chính phủ, khó thu hồi hơn 457 tỷ đồng; bảo lãnh và tiếp nhận bảo lãnh cho các đơn vị kinh doanh thua lỗ hơn 6.200 tỷ đồng, 151,8 triệu USD và 69,2 triệu EUR tiềm ẩn rủi ro.

Công ty mẹ – Vinataba cho Công ty Thực phẩm miền Bắc vay 60 tỷ đồng từ năm 2012 và 2013 khó có khả năng thu hồi gốc và lãi 67,28 tỷ đồng,…

Trong khi còn hàng nghìn tỷ nợ khó đòi, thì Kiểm toán Nhà nước cũng thấy rằng, hoạt động kinh doanh của nhiều DN nhà nước chủ yếu dựa vào vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn chiếm dụng, dẫn đến hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao.

Chẳng hạn, Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Cà Mau Vinalines có hệ số nợ phải trả cao gấp gầ 154 lần vốn chủ sở hữu, Công ty Cổ phần Phát triển Hàng hải Việt Nam 55 lần, Công ty TNHH MTV Cảng Năm Căn 17,7 lần,…

 Theo Kiểm toán Nhà nước, cơ bản các DN được cổ phần hóa đã xử lý các vấn đề tài chính trước khi xác định giá trị DN và giá trị vốn nhà nước tại DN theo quy định. Song, việc xử lý tài chính của Công ty mẹ Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị Hà Nội (HUD) còn sai sót. Một số đơn vị xác định giá trị DN và phần vốn nhà nước tại DN chưa đúng đắn. Cụ thể xác định giá trị Công ty mẹ – HUD thiếu gần 35 tỷ đồng, Công ty mẹ – IDICO thiếu 817 tỷ đồng; Công ty mẹ – Tổng công ty Sông Đà thừa 89,77 tỷ đồng,…

Tốc độ nợ công tăng nhanh

Phương Nhung /Người lao động (Cafef.vn) – Kiểm toán Nhà nước vừa có báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2014 cho thấy dư nợ công đến ngày 31-12-2014 là 2.284.882 tỉ đồng, bằng 58,02% GDP.

Trong đó, nợ Chính phủ là 1.826.777 tỉ đồng, bằng 46,4% GDP, chiếm 79,95% nợ công; nợ được Chính phủ bảo lãnh là 422.640 tỉ đồng, chiếm 18,5% nợ công và nợ chính quyền địa phương là 35.465 tỉ đồng, chiếm 1,55% nợ công.

Qua kiểm toán cho thấy chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nợ công từng bước được tăng cường, các chỉ tiêu nợ công năm 2014 so với GDP trong phạm vi giới hạn Quốc hội cho phép (thấp hơn 65% GDP – PV). Song, danh mục nợ công tuy phù hợp với quy định của Luật Quản lý nợ công nhưng có thể bị trùng lặp hoặc chưa đầy đủ các khoản nợ của Chính phủ; tốc độ nợ công tăng nhanh; công tác tổ chức quản lý nợ công phân tán, thiếu sự đối chiếu, thống nhất trước khi tổng hợp, lập báo cáo. Đáng lưu ý, Bộ Tài chính chưa cung cấp đầy đủ bằng chứng làm cơ sở để Kiểm toán Nhà nước xác nhận số dư nợ công đến cuối năm 2014 tại Báo cáo về các chỉ tiêu giám sát nợ năm 2014.

Báo cáo cũng cho thấy tình trạng sử dụng sai nguồn kinh phí xảy ra ở nhiều địa phương được kiểm toán. Kiểm toán Nhà nước kiến nghị 21/50 tỉnh, TP được kiểm toán bố trí hoàn trả lại nguồn 1.608 tỉ đồng. Ngoài ra, còn địa phương sử dụng sai nguồn kinh phí và không còn kết dư ngân sách dẫn đến một số nhiệm vụ chi theo quy định được chuyển nguồn nhưng không có nguồn bảo đảm để chi chuyển nguồn.

Về mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản, cơ quan kiểm toán nêu rõ một số đơn vị được kiểm toán chưa tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành về mua sắm, sửa chữa tài sản, vượt định mức về số lượng ô tô. Trong đó, một số đơn vị thuộc Bộ Y tế sử dụng vượt 17 ô tô so với định mức, Viện Pháp y tâm thần trung ương vượt 1 xe, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức vượt 3 xe…

Doanh nghiệp lợi lớn, người tiêu dùng ra rìa

(Cafef.vn) – Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cùng các chuyên gia cho rằng, cách tính thuế nhập khẩu bình quân gia quyền đối với mặt hàng xăng dầu hiện nay giúp các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối thu lợi lớn mỗi ngày.

Lợi nhuận doanh nghiệp “khủng”

Câu chuyện về áp thuế nhập khẩu xăng dầu từ ASEAN và Hàn Quốc ở mức nào, áp ra sao, đang là “bài toán khó” với Bộ Tài chính, khi liên tiếp trong thời gian gần đây, Hiệp hội Xăng dầu (VINPA), Bộ Công Thương và cả các chuyên gia trong ngành có văn bản đề nghị cần xem xét lại.

Ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch VINPA cho biết, ngày 17/3/2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 48 áp mức thuế nhập khẩu đối với mặt hàng xăng là 20%, các mặt hàng dầu là 7%. Cách áp mức thuế nhập khẩu này gây chênh lệch lớn, ảnh hưởng đến lợi ích người tiêu dùng, gây bức xúc cho dư luận xã hội.

Để khắc phục bất cập của Thông tư 48, ngày 18/3, Bộ Tài chính ra văn bản 189 áp mức thuế nhập khẩu để tính giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu là thuế nhập khẩu bình quân gia quyền theo sản lượng nhập khẩu từ các nguồn khác nhau, lấy số liệu quý trước tính cho quý sau.

Mức thuế nhập khẩu áp dụng cho quý II/2016 (áp dụng từ ngày 5/4) để tính giá cơ sở là 18,35% đối với xăng; 2,32% đối với diesel và 0% đối với dầu hỏa và madút. Tuy nhiên, việc áp mức thuế nhập khẩu bình quân gia quyền đã bộc lộ những bất cập lớn hơn. Đặc biệt, việc ra mức thuế mới này đã vi phạm luật.

Số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2016, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là 5,4 triệu tấn, tăng 27,6%. Do giá dầu thế giới xuống thấp nên giá nhập khẩu bình quân giảm tới 37,5% so với cùng kỳ năm trước với trị giá nhập khẩu là 1,96 tỷ USD.

Các số liệu cũng cho thấy, trong 5 tháng đầu năm, lượng xăng dầu nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường ASEAN và Hàn Quốc tăng rất mạnh so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, nhập khẩu 2,18 triệu tấn xăng dầu từ Singapore (tăng 7,4%); 1,49 triệu tấn xăng dầu từ Malaysia (tăng gấp 5 lần) và 713 nghìn tấn từ Hàn Quốc (tăng gấp 9 lần so với cùng kỳ năm trước).

Theo tính toán của các chuyên gia ngành xăng dầu, với mức chênh lệch thuế 8,35% đối với xăng (thuế nhập từ Hàn Quốc là 10%, nhưng thuế bình quân gia quyền áp dụng là 18,35% tính đến trước ngày 5/7), doanh nghiệp nếu chọn thời điểm tốt để đặt mua, có thể kiếm lợi mỗi thùng khoảng 4,843 USD (tương đương khoảng 678 đồng/lít).

Với lượng nhập khẩu gần 2,2 triệu tấn xăng, dầu nhập khẩu từ Hàn Quốc trong 5 tháng đầu năm 2016, mức lợi nhuận cho doanh nghiệp có thể lên tới hàng trăm tỷ đồng. Điển hình như Petrolimex lãi hơn 1.130 tỷ đồng chỉ trong 3 tháng kinh doanh đầu năm. Riêng lãi từ kinh doanh xăng dầu chiếm gần 48%, tương đương 658 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế của Petrolimex đạt 1.134 tỷ đồng, cao gần gấp 3 lần cùng kỳ 2015.

Phớt lờ lợi ích người tiêu dùng

Liên quan đến việc điều hành giá xăng dầu, theo đại diện VINPA, Nghị định 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 39 đều quy định giá cơ sở bao gồm 11 yếu tố trong đó có thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, “Bộ Tài chính đã điều hành, cách áp thuế nhập khẩu để tính giá cơ sở không đúng với Nghị định 83/2014/NĐ-CP và thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC”, lãnh đạo VINPA cho hay.

“Bất cập ở chỗ, việc Bộ Tài chính cho áp thuế theo văn bản 4536/BTC-QLG với mức thuế nhập khẩu bình quân gia quyền 18,35% đối với xăng và 2,32% đối với dầu diesel thì mức chênh lệch thuế nhập khẩu vẫn còn lớn, làm cho giá cơ sở ở mức cao. Theo đó, giá bán lẻ cũng ở mức cao, không có lợi cho người tiêu dùng, bất cập này không được xử lý triệt để gây bức xúc trong dư luận xã hội”, ông Ruệ cho hay.

Trao đổi với PV Tiền Phong, một chuyên gia về xăng dầu cũng cho rằng, cách áp thuế nhập khẩu bình quân gia quyền hiện nay không phản ánh đầy đủ diễn biến giữa giá thế giới và giá trong nước.

“Chưa kể theo quy định hiện hành của Luật Thuế xuất nhập khẩu, chỉ có 3 loại thuế được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu (thuế nhập khẩu thông thường, thuế nhập khẩu ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt).

Việc áp dụng mức tính thuế nhập khẩu bình quân gia quyền để tính giá cơ sở như vậy là một loại thuế mới hoàn toàn. Việc ban hành hay áp dụng một loại thuế mới là thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Nay áp dụng vào điều hành, có nghĩa Bộ Tài chính đã tự ý “đẻ” thêm một loại thuế mới”, vị này phân tích.

Để giải quyết những bất cập trong áp thuế nhập khẩu xăng dầu hiện nay, Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cho rằng, cần thực hiện áp thuế nhập khẩu đồng nhất đối với xăng là 10% theo FTA Việt Nam – Hàn Quốc, 0% đối với các mặt hàng dầu theo quy định của ATIGA và áp mức thuế này vào tính giá cơ sở để điều hành giá bán lẻ xăng dầu.

“Bộ Tài chính cần nghiên cứu để trình cơ quan có thẩm quyền sớm điều chỉnh một số sắc thuế nội địa của sản phẩm xăng dầu để bù đắp thiếu hụt do giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cắt giảm thuế theo cam kết”, lãnh đạo VINPA kiến nghị.

Một quan chức Bộ Công Thương cho biết, tuần qua đã gửi công văn tới Bộ Tài chính đề nghị xem xét lại việc tính và áp thuế nhập khẩu xăng dầu để tránh gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đồng thời không để tình trạng doanh nghiệp được hưởng lợi từ cách áp thuế hiện nay.

Trong kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ thường chọn nhập xăng dầu từ những thị trường có mức thuế thấp và bán ra với giá cao nhất để tối đa hóa lợi nhuận. Nay áp thuế bình quân gia quyền ở mức 15,74% đối với xăng và 1,84% đối với dầu diesel (trong khi doanh nghiệp nhập từ những nước chỉ có thuế 10% với xăng và 0% với dầu) không chỉ khiến Nhà nước thất thu thuế, mà người tiêu dùng phải chịu thiệt.

PGS TS Ngô Trí Long

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s