Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ lớn, sếp doanh nghiệp nhà nước nhận lương khủng

Posted: July 22, 2016 in Uncategorized
Tags:

Xuân Thân (VOV) – Kết quả kiểm toán vừa được Kiểm toán Nhà nước công bố cho thấy, nhiều tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước hiệu quả hoạt động giảm sút, thua lỗ.

� Xem thêm: Sếp doanh nghiệp nhà nước nhận lương khủng: Việt Nam làm ngược + Nhiều doanh nghiệp nhà nước trích quỹ tiền lương vượt chục tỉ + Tập đoàn, tổng công ty vung vãi tiền nhà nước.


Năm 2014, Vinalines lỗ 3.478,48 tỷ đồng (Ảnh minh họa: KT)

Kết quả kiểm toán năm 2015 vừa được Kiểm toán Nhà nước công bố cho thấy, qua kiểm toán báo cáo tài chính, các hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước năm 2014 của 234 doanh nghiệp thuộc 38 tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT), công ty thì hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp giảm sút, thua lỗ.

Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu năm 2014 của TCT Lâm nghiệp là 8,6% (giảm 3,48% so với năm 2013); Vinaconex 8,5% (giảm 3,33%); PVN 15,56% (giảm 10,45%); Hfic 22,64% (giảm 2,64%); IDICO 9,8% (giảm 1,42%)…

Có đến 5/38 TĐ, TCT, công ty kinh doanh thua lỗ, như: Vinalines lỗ 3.478,48 tỷ đồng; TCT 15 lỗ 471,1 tỷ đồng; Vinaincon lỗ 131,96 tỷ đồng; TCT Mía đường II lỗ 15,18 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV In Đắk Lắk lỗ 2,95 tỷ đồng.

Nhiều TĐ, TCT quản lý nợ chưa chặt chẽ, dẫn đến nợ phải thu quá hạn như các tổng công ty: Văn hóa Sài Gòn, Công nghiệp Sài Gòn, Mía đường II, Vinataba, Đường sông miền Nam, Du lịch Sài Gòn, EVN miền Trung, EVN Hà Nội, Vinalines…

Đồng thời, nhiều tập đoàn, tổng công ty cũng để tình trạng nợ khó đòi lớn, như: Mobifone thì riêng Công ty mẹ có nợ khó đòi chiếm 30,4% nợ phải thu; Công ty TNHH MTV Bò sữa thành phố Hồ Chí Minh có nợ khó đòi chiếm 81,19%; Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu nông lâm hải sản có nợ khó đòi chiếm 62%; Hapro cũng tới 25,7% nợ khó đòi; TCT Điện lực miền Bắc nợ khó đòi 49,8 tỷ đồng, TCT Điện lực miền Nam 16,7 tỷ đồng, TCT Điện lực thành phố Hồ Chí Minh 34,3 tỷ đồng, TCT Truyền tải điện Quốc gia 53,8 tỷ đồng…;

Trong đó, ở PVN có Công ty Cổ phần Vận tải dầu khí Thái Bình Dương phải thu theo Quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm 80 tỷ đồng; TCT Cổ phần Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam phải thu Công ty Công nghiệp Tàu thủy Dung Quất 124,74 tỷ đồng, TCT Phân bón và Hóa chất dầu khí – CTCP 110,14 tỷ đồng.

Cùng với đó, một số đơn vị đã xóa nợ chưa đủ điều kiện, như: CC1: Công ty mẹ 41,84 tỷ đồng; IDICO: Công ty TNHH MTV Xây dựng IDICO 0,23 tỷ đồng.

Cũng có tình trạng tập đoàn, tổng công ty trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi không đúng quy định. Chẳng hạn, trích lập không đầy đủ tại Vinaconex có Công ty Cổ phần Xây dựng số 5 là 7,62 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Vinaconex Sài Gòn 19,11 tỷ đồng; tổng công ty Lũng Lô; Công ty TNHH MTV Dịch vụ du lịch Thủ Đức; PVN; TCT Văn hóa Sài Gòn; Hapro;

Thậm chí có cả tình trạng trích không có hồ sơ, không đúng đối tượng hoặc chưa đủ điều kiện, như tại Tổng công ty 15 thì ở Chi nhánh Công ty 75 thuộc Công ty mẹ 3,67 tỷ đồng, Công ty TNHH MTV 732 là 5 tỷ đồng; TCT Du lịch Sài Gòn thì Công ty mẹ 4,95 tỷ đồng; Vinaconex có Công ty Cổ phần Xây dựng số 5 là 3,64 tỷ đồng; TCT Công nghiệp Sài Gòn: Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn 3,8 tỷ đồng; Vinaincon: Công ty mẹ 3,98 tỷ đồng…; PVN: PVOil, PVEP, PVECCo; (iii) Không trích: Công ty TNHH MTV Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp IDICO…

Sếp doanh nghiệp nhà nước nhận lương khủng: Việt Nam làm ngược

Hoàng Hải (BĐV) – Phó Chủ tịch VAFI cho rằng Việt Nam đang làm ngược khi đưa ra mức lương cứng quá cao cho các lãnh đạo, cán bộ doanh nghiệp nhà nước.

Lương thực tế còn cao hơn kê khai giấy tờ

Sau khi đăng bài viết Sếp EVN nhận lương 600 triệu/năm: Nhiều nơi còn cao hơn phản ánh về tình trạng lương, thưởng của 1 số lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, Đất Việt tiếp tục nhận thêm được ý kiến chia sẻ của ông Nguyễn Hoàng Hải – Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI).

Theo ông Hải, việc dư luận xôn xao trước thông tin sếp của EVN nhận mức lương 600 triệu đồng/năm hay lãnh đạo Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) nhận mức nước hơn 100 triệu đồng/tháng là có cơ sở khi mặt bằng chung hiện nay vẫn còn thấp.

Tuy nhiên, theo Phó chủ tịch VAFI, thực tế hiện nay, nhiều khi những con số thống kê mức lương trên giấy tờ chưa phản ánh được hết mức thu nhập của các cán bộ, lãnh đạo chủ chốt các doanh nghiệp nhà nước.


Phó Chủ tịch VAFI cho rằng Việt Nam đang làm ngược khi đưa ra
mức lương cứng quá cao cho các lãnh đạo, cán bộ doanh nghiệp nhà nước.

“Nói về mức lương thưởng của doanh nghiệp nhà nước, không phải đại trà nhưng tôi cho rằng hiện nay đang có tình trạng là thu nhập thực tế còn cao hơn thu nhập sổ sách. Khi công bố người ta thường báo cáo ít hơn”, ông Hải nhấn mạnh.

Đi cụ thể vào trường hợp của EVN khi các lãnh đạo nhận lương 600 triệu đồng/năm, vị chuyên gia cho rằng đang có sự bất hợp lý và cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với tình hình hiện nay.

“Tôi không đồng tình với cách quản lý của EVN hiện nay. Đặc biệt bộ máy biên chế thì cồng kềnh. Hơn nữa, xuất đầu tư thì cao, EVN lại không chịu cổ phần hóa và cải cách doanh nghiệp.

Đơn giản là vào website của EVN làm sao chúng ta có thể thấy được suất đầu tư của từng loại hình năng lượng được, họ có công bố đâu.

Từ những yếu kém đấy, nó làm cho giá thành điện tăng, nếu không tăng thì sẽ bị thua lỗ. Thế nhưng tại sao ông lại không cắt giảm đi và mức lương của sếp EVN vẫn cao như thế”, ông Hải phân tích.

Việt Nam đang làm ngược

Lý giải bất cập trên, Phó Chủ tịch VAFI cho rằng Việt Nam đang làm ngược so với thế giới khi quy định mức lương chưa hợp lý với hiệu quả lao đông cũng như năng lực làm việc của các vị lãnh đạo, cán bộ nhà nước.

“Trong khu vực tư nhân hay khu vực nước ngoài, cán bộ lãnh đạo, Tổng Giám đốc hội đồng quản trị có thể đạt mức lương 300-400 triệu/tháng. Nhưng mà mức lương đó để đạt được không hề đơn giản.

Thường thường họ cơ cấu chỉ cho cán bộ đứng đầu 60-70 triệu đồng/ tháng gọi là lương cơ bản, còn với phần mềm thì anh phải xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ mới được mức đó. Đặc biệt nếu những người đứng đầu không hoàn thành nhiệm vụ thì họ sẽ sa thải ngay chứ không để mức lương đó”, ông Hải dẫn chứng.

So sánh với Việt Nam, vị chuyên gia thừa nhận chúng ta lại quá chú trọng vào mức lương cứng. Vì vậy cơ chế lương của doanh nghiệp nhà nước không phản ánh thực chất với năng lực lao động và hiệu quả làm việc thực chất.

“Chẳng hạn như SCIC hay EVN chúng ta lại để lương hoàn toàn khác, phần cứng để lương rất cao. EVN ở mức 600 triệu/năm còn SCIC là hơn 1 tỷ/năm. Đáng nhẽ các doanh nghiệp này nên để lương phần cứng và phần mềm. Phần cứng thấp thôi còn phần mềm thì cao hơn nhưng với điều kiện phải hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi cho rằng quy định mức lương như thế với doanh nghiệp nhà nước chưa ổn mà rất tốn kém. Kể cả mức lương 1 triệu đồng cũng quá đắt nếu lãnh đạo chỉ phá chứ không làm ra lợi nhuận”, ông Hải nhấn mạnh.

Một thực tế khác được ông Hải chỉ ra đó là tình trạng các lãnh đạo nhà nước nắm cổ phần chi phối doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam nhận mức lương rất cao khiến dư luận nghi ngại, bức xúc thời gian qua.

Lấy ví dụ thực tế từ trường hợp của công ty bia Sài Gòn Sabeco do nhà nước nắm vốn, vị chuyên gia thừa nhận dư luận đang xôn xao trước thông tin 1 số lãnh đạo trẻ của doanh nghiệp này nhận mức lương, thưởng trong năm 2015 lên tới 1,9 tỷ đồng.

“Bây giờ các doanh nghiệp nước ngoài mà có nhà nước nắm cổ phần chi phối đa số là phức tạp. Những người được giao ở Bộ có trình độ quản lý thấp. Vì thế không thể đưa ra một mức lương nào phù hợp cả”, ông Hải thừa nhận.

Mạnh dạn thay đổi cơ chế quản lý

Theo ông Hải, để xóa bỏ những nghi ngại của người dân về việc cán bộ, lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước nhận mức lương khủng nhưng chưa tương xứng với hiệu quả công việc , chúng ta cần phải mạnh dạn thay đổi cơ chế quản lý.

Thứ nhất là phải tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp. Thứ hai là phải niêm yết, công khai, minh bạch.

Thứ ba là chế độ tiền lương nên để cổ đông tư nhân phê chuẩn. Nhà nước không được phê chuẩn thì sẽ vô tư hơn.

Ví dụ như Sabeco, Habeco hay những doanh nghiệp mà 70% -80% vốn là của nhà nước thì kế hoạch tiền lương của các vị lãnh đạo chủ chốt nên để cho cổ đông bên ngoài phê chuẩn. Cổ đông họ sẽ rất khách quan vô tư, làm nhiều thì thưởng nhiều, làm ít thì thưởng ít, nếu không thì họ sa thải. Bây giờ nhà nước phải đưa ra cơ chế như vậy để cổ đông phán xét.

Nếu các lãnh đạo nhà nước mà đưa ra kế hoạch lương, thưởng cao, kế hoạch thấp ra sao thì khi tiến hành đại hội cổ đông họ nắm giữ 50-60% , 70% cổ phần thì vẫn thắng thế. Như vậy chế độ tiền lương đó chả có ý nghĩa gì cả. Nhưng ngược lại nếu doanh nghiệp nhà nước là đa số nhưng phần tiền lương là để cho cổ đông tư nhân họ quyết thì tôi nghĩ sẽ góp phần cải thiện phần nào.

Với trường hợp lương thưởng của lãnh đạo trẻ Sabeco năm 2015 lên tới 1,9 tỷ đồng cũng vậy. Nếu như Sabeco để cho doanh nghiệp cổ đông bên ngoài người ta phê chuẩn thì bắt buộc doanh nghiệp phải thay đổi”, ông Hải nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, phó chủ tich VAFI cho rằng, chúng ta cũng hoàn toàn có thể áp dụng chế độ lương cứng và lương mềm như các doanh nghiệp nước ngoài đang áp dụng hiện nay để nâng cao trách nhiệm cũng như năng lực của cán bộ lãnh đạo.

“Nhà nước có cổ phần trong doanh nghiệp nước ngoài nên để ban đầu là một phần lương cứng vừa phải, có doanh nghiệp chỉ trả ở mức 2-3 triệu đồng. Phần lương mềm phải tính dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, nhà nước cũng có thể tiến hành bán đấu giá, lựa chọn giá cao nhất để lấy tiền thu, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông”, ông Hải cho biết thêm.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước trích quỹ tiền lương vượt chục tỉ

C.V.Kình (TTO) – Theo kết quả kiểm toán năm 2015 của Kiểm toán Nhà nước, nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã vi phạm các quy định với chủ ý rõ ràng. Tính chất vi phạm cũng đáng báo động…

Qua kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước cho biết hoạt động kinh doanh của nhiều tập đoàn, tổng công ty chủ yếu dựa vào vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn chiếm dụng, dẫn đến hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao.

Đơn cử như ở các đơn vị thuộc Tổng công ty Hàng hải (Vinalines), cụ thể là Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Cà Mau, nợ trên vốn là 153,92 lần, Công ty cổ phần đầu tư Cảng Cái Lân 27,62 lần. Các doanh nghiệp khác như Tổng công ty Sông Đà gấp 4,36 lần, Tổng công ty Phát điện 3 (EVN) gấp 6,74 lần…

Đặc biệt, Kiểm toán Nhà nước xác định một số DNNN chưa tuân thủ quy định về quản lý tiền lương theo quy định của Bộ Lao động – thương binh và xã hội.

Như Công ty TNHH MTV CNS Thạnh Phát (thuộc Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn) đã không xây dựng định mức lao động, kế hoạch sử dụng lao động, không xác định quỹ tiền lương kế hoạch của người lao động, viên chức quản lý và không báo cáo chủ sở hữu.

Đáng lưu ý, dù quy định đã có nhưng một số DNNN đã trích vượt quỹ tiền lương để chi trả. Như Công ty TNHH MTV vận tải Biển Đông (thuộc Vinalines) trích vượt tới 20,75 tỉ đồng; Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn trích vượt 1,02 tỉ đồng; Tổng công ty cổ phần Đường sông miền Nam trích vượt 0,7 tỉ đồng…

Kiểm toán Nhà nước cho biết thực tế rằng hầu hết các tập đoàn, tổng công ty phản ánh không đúng doanh thu, chi phí.

Như MobiFone chưa thực hiện đầy đủ các quy định về khuyến mại, về xác định và báo cáo giá thành, giá cước dịch vụ viễn thông; Tổng công ty Dầu Việt Nam (thuộc Tập đoàn Dầu khí) kinh doanh xăng dầu chưa đúng quy định, áp dụng tỉ lệ hao hụt định mức trong bảo quản xăng dầu dự trữ quốc gia đã lạc hậu, không phù hợp…

Với những kết quả kiểm toán trên, Kiểm toán Nhà nước đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và đơn vị được kiểm toán kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân đối với các khuyết điểm và sai phạm đã nêu trong báo cáo kiểm toán của từng cuộc kiểm toán thực hiện trong năm 2015…

Tập đoàn, tổng công ty vung vãi tiền nhà nước

Phương Nhung/Người lao động (Cafef.vn) – Nhiều tập đoàn, tổng công ty quản lý nợ chưa chặt chẽ dẫn đến nợ khó đòi lớn, nợ tạm ứng tồn đọng nhiều năm với số tiền lớn chưa được thu hồi, sử dụng tài sản sau đầu tư không hiệu quả gây lãng phí vốn, thua lỗ…


Vinalines tiếp tục có hiệu quả đầu tư thấp Ảnh: Tấn Thạnh

Kiểm toán Nhà nước (KTNN) vừa báo cáo kết quả kiểm toán các doanh nghiệp (DN) nhà nước và các tổ chức tài chính – ngân hàng.

Nhập nhằng nợ nần cả ngàn tỉ đồng

Kết quả kiểm toán cho thấy nhiều tập đoàn, tổng công ty quản lý nợ chưa chặt chẽ, dẫn đến nợ phải thu quá hạn, nợ khó đòi lớn. Như tại Mobifone, số nợ công ty mẹ là 312,8 tỉ đồng (chiếm 30,4% nợ phải thu), Công ty VNPT-Global 14,39 tỉ đồng (chiếm 10,3%). Tại Hapro, số nợ là 376,65 tỉ đồng (chiếm 25,7%). Tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty CP Vận tải dầu khí Thái Bình Dương phải thu theo Quyết định của TAND TP HCM trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm 80 tỉ đồng, Tổng Công ty CP Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam phải thu Công ty Công nghiệp tàu thủy Dung Quất 124,74 tỉ đồng…

Cơ quan kiểm toán cũng chỉ ra một số đơn vị xóa nợ chưa đủ điều kiện, trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi không đúng quy định, chưa ban hành quy chế quản lý các khoản nợ phải thu; nợ tạm ứng tồn đọng nhiều năm với số tiền lớn chưa được thu hồi… Một số khoản cho vay, bảo lãnh tiềm ẩn nguy cơ khó đòi, mất vốn. Công ty mẹ – Vinalines cho 3 công ty con vay theo chủ trương của Chính phủ, khó thu hồi 457,8 tỉ đồng; bảo lãnh và tiếp nhận bảo lãnh cho các đơn vị kinh doanh thua lỗ 6.204,54 tỉ đồng, 151,8 triệu USD và 69,2 triệu EUR tiềm ẩn rủi ro; công ty mẹ – Vinataba cho Công ty Thực phẩm miền Bắc vay 60 tỉ đồng từ năm 2012 và 2013 khó có khả năng thu hồi gốc và lãi 67,28 tỉ đồng…

Trong khi đó, hoạt động kinh doanh của nhiều tập đoàn, tổng công ty chủ yếu dựa vào vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn chiếm dụng, dẫn đến hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao. Chẳng hạn, Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Cà Mau Vinalines có hệ số nợ phải trả cao gấp153,92 lần, Công ty CP Phát triển Hàng hải Việt Nam 55,21 lần, Công ty TNHH Sửa chữa tàu biển Vinalines Đông Đô 40,55 lần…

Hiệu quả đầu tư kém

Về đầu tư tài chính, Vinalines tiếp tục được nhắc đến khi hiệu quả đầu tư thấp với 51/63 đơn vị có vốn đầu tư của công ty mẹ thua lỗ hoặc hiệu quả thấp, cổ tức thu được năm 2014 bằng 0,46% vốn đầu tư. Một đơn vị khác là công ty mẹ Tổng Công ty Cơ khí xây dựng (COMA), lợi nhuận được chia năm 2014 từ các công ty con chỉ bằng 1,05% vốn đầu tư. Trong 10 công ty con của COMA thì có tới 6 công ty thua lỗ. Đáng lưu ý, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đầu tư 800 tỉ đồng vào Oceanbank và mất toàn bộ quyền, lợi ích cũng như tư cách cổ đông.

Một số tập đoàn, tổng công ty sử dụng tài sản sau đầu tư không hiệu quả gây lãng phí vốn, thua lỗ. Công ty TNHH MTV Công trình giao thông Sài Gòn năm 2014 không sử dụng hệ thống máy chuyên dùng vào bóc tái chế nguội mặt đường dù đã được đầu tư 38,79 tỉ đồng vào năm 2012…

Có trường hợp mua sắm, thanh lý tài sản không đúng quy định như tại Tổng Công ty Xây dựng số 1, công ty mẹ mua xe Toyota 4Runner 2,25 tỉ đồng, cao hơn mức tối đa cho phép 1,21 tỉ đồng; Công ty CP Xây dựng số 1 – Việt Nguyên mua xe Mercedes – Benz và thanh lý xe Audi không đúng quy chế tài chính của đơn vị.

Một số đơn vị kinh doanh xăng dầu không đúng quy định, như PV Oil Sài Gòn, Petro Mekong, PV Oil Tây Ninh mua xăng dầu của các doanh nghiệp không thuộc đầu mối Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam; một số tổng đại lý không đủ điều kiện về kho, bể; lượng hàng dự trữ quốc gia tại một số thời điểm trong năm bị thiếu hụt. Có đơn vị áp dụng tỉ lệ hao hụt định mức trong bảo quản xăng dầu dự trữ quốc gia đã lạc hậu, không phù hợp. Năm 2014, Tổng Công ty Dầu Việt Nam quyết toán theo định mức hao hụt quy định của Bộ Tài chính và Bộ Công Thương (đã lạc hậu), cao hơn định mức của tổng công ty là 74.217 lít xăng, 3.914 lít dầu diesel, tương đương 1,4 tỉ đồng.

KTNN cũng chỉ ra Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam trích lập và sử dụng các quỹ chưa đúng quy định: trích vượt Quỹ môi trường năm 2012 là 113,74 tỉ đồng; sử dụng quỹ để đầu tư cho các dự án, đề án không đúng quy định từ năm 2010-2014 là 238,68 tỉ đồng; sử dụng Quỹ thăm dò để đầu tư cho hoạt động khai thác khoáng sản ngoài than lớn hơn số trích lập 371,1 tỉ đồng.

Thoái vốn nhà nước chậm

Báo cáo của KTNN cũng nêu rõ việc thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp (DN) nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 chưa đáp ứng yêu cầu và kế hoạch đề ra về tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn; công tác chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DN về Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước chậm; hiệu quả sản xuất – kinh doanh tại một số DN chưa cao.

Về các tổ chức tài chính – ngân hàng, tổng nợ xấu toàn hệ thống tại thời điểm cuối năm 2014 là 145.200 tỉ đồng (tăng 28.700 tỉ đồng, tương ứng 24,6% so với cuối năm 2013), chiếm 3,25% tổng dư nợ. Việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng chủ yếu thông qua việc bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) nhưng xử lý nợ xấu của VAMC chưa hiệu quả; các tổ chức tín dụng phân loại nợ chưa phù hợp…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s