Hoạt động kém hiệu quả, nhiều DNNN vẫn được “bơm” vốn đều đặn

Posted: July 30, 2016 in Uncategorized
Tags:

(Cafef.vn) – Nhiều DNNN trong lĩnh vực khai thác khoáng sản hoạt động chưa thực sự hiệu quả, nhưng vẫn được “bơm” vốn đều đặn dẫn đến những hệ lụy về môi trường.

� Xem thêm: Nặng gánh thuế phí: Ông chủ sợ làm ăn lớn + Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu hội nhập là gì làm sao có chuyện tận dụng được cơ hội!

Sáng 29/7 Hội Địa chất kinh tế Việt Nam, Liên minh Khoáng sản, Trung tâm Thiên nhiên và Con người cùng phối hợp tổ chức hội thảo “Quản lý đầu tư trong khai thác khoáng sản: Các bất cập và khuyến nghị”.

Các DNNN đã hoạt động hiệu quả?

Theo thông tin từ hội thảo, hiện nay trên cả nước có khoảng 170 DNNN hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản. Tuy nhiên các hoạt động khoáng sản chủ yếu tập trung vào 5 tập đoàn và tổng công ty lớn.

Đầu tư nhà nước chiếm một tỷ trọng lớn trong đầu tư khai thác tài nguyên. Tuy nhiên hiệu quả đầu tư của các dự án đầu tư nhà nước trong các dự án phát triển nói chung và khai khác khoáng sản nói riêng cần được đánh giá một cách tổng thể và nghiêm túc.

Theo ông Lê Đăng Doanh, Nguyên viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, khoáng sản tại Việt Nam đang được khai thác ở những trình độ công nghệ khác nhau, tỷ lệ thu hồi khoáng sản chưa cao, nhiều khoáng sản phụ có hàm lượng thấp hơn chưa được chú trọng khai thác dẫn đến lãng phí. Rất nhiều nguyên tố phụ trong khoáng sản của Việt Nam được nước ngoài thu mua lại với giá rất rẻ nhưng về khai thác lại có rất nhiều nguyên tố quý hiếm. Trong nhiều trường hợp chúng ta mới chỉ khai thác được khoảng 30-40% giá trị của khoáng sản như vậy gây lãng phí lớn.

Bên cạnh đó tình trạng xuất khẩu thô còn kéo dài. Đặc biệt tình trạng xuất lậu sang Trung Quốc còn rất nghiêm trọng. Kinh doanh đa ngành đa lĩnh vực vẫn chưa được điều chỉnh. Trong khi khối doanh nghiệp nhà nước về lĩnh vực khai thác khoáng sản vẫn đang được hưởng quá nhiều ưu đãi, độc quyền về khoáng sản, song doanh thu của một số tập đoàn, tổng công ty lại được đầu tư vào các hoạt động kinh doanh đa ngành( du lịch, bất động sản, chứng khoán…) và còn hiện tượng thua lỗ thiệt hại lớn ở một số đơn vị.

Ngân hàng đang ưu đãi cho DNNN quá nhiều?

Bà Trần Thanh Thủy – Trung tâm con người và Thiên nhiên cho rằng có vẻ như các ngân hàng vẫn đang ưu ái với các dự án của ngành khai thác khoáng sản. Bà Thủy đưa ra dẫn chứng, theo số liệu đã công bố của Vietcombank, năm 2016, dư nợ của ngành khoáng sản tại ngân hàng này lên tới 20.000 tỷ đồng, ngành năng lượng là 25.000 tỷ đồng, trong khi đó dư nợ của ngành nông nghiệp chỉ có 2.000 tỷ đồng.

Bà Trần Thanh Thủy cho rằng, nhìn bên ngoài tưởng rằng các tổ chức tín dụng khá thân thiện với môi trường, ít phát thải, tuy nhiên thông qua việc rót vốn cho các dự án khai thác tài nguyên kém hiệu quả có thể gián tiếp gây ra các tác động xấu đến môi trường.

Đơn cử như dự án khai thác sắt mỏ Thạch Khê, khi thực hiện dự án sẽ khiến khoảng 4000 hộ dân ( khoảng 16.000 người) sẽ phải di rời. Do nằm ở khu vực có địa hình phức tạp nên dự án được đánh giá là khó có hiệu quả. Sau 8 năm triển khai, dự án vẫn tạm dừng ở giai đoạn bóc một phần đất phủ. Trên thực tế nhiều ý kiến cho rằng việc thực thi dự án này là hoàn toàn không hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn mặt môi trường do dự án này nằm rất sâu dưới lòng đất và sát biển, nên việc khai thác phải bóc một lượng lớn đất phủ và quản lý chất thải cũng như việc hạn chế việc thấm nước từ biển vào là vô cùng tốn kém. Tuy nhiên dự án này vẫn được triển khai. Năm 2015, dự án được Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chấp thuận cho vay 3.000 tỷ đồng trong giai đoạn 1 để thực hiện dự án này.

Hay dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 2 do EVN 2 làm chủ đầu tư và do tập đoàn Điện khí Thượng Hải Trung Quốc làm tổng thầu công trình với tổng giá trị hợp đồng là 1.384 tỷ USD. Dự án này gặp nhiều vấn đề liên quan đến khói bụi, xỉ than và sự phản ứng gay gắt từ cộng đồng địa phương. Do gặp phải vấn đề về môi trường nên dự án phải tạm dừng hoạt động nhiều lần. Chi phí cho mỗi lần khởi động lại hệ thống cũng đã lên tới hàng tỷ đồng. Tuy vậy dự án này vẫn được chấp thuận cho vay 7.500 tỷ đồng bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Đương nhiên khi đầu tư vào các dự án có rủi ro, phía các ngân hàng cũng đứng trước những nguy cơ như dự án bị đình trệ và chủ đầu tư dự án không có khả năng hoàn trả khoản vay, phản ứng từ khách hàng hay uy tín của ngân hàng và nhà tài trợ… Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay hầu hết các ngân hàng chưa mấy quan tâm đến khía cạnh môi trường. Vẫn còn thiếu những hướng dẫn và chỉ số định hướng cụ thể về tín dụng xanh. Thêm vào đó các chính sách về môi trường vẫn chưa được áp dụng đồng bộ và bắt buộc trong hệ thống ngân hàng. Phía các ngân hàng còn thiếu những thông tin về căn cứ tin cậy về tác động môi trường từ các dự án xem xét tín dụng.

Bà Thủy cho rằng, để giảm thiểu các dự án kém hiệu quả, tác động xấu đến môi trường, nhưng vẫn được duyệt cho vay vốn, các ngân hàng có thể công khai thông tin về các dự án cho vay vốn để tham khảo ý kiến từ các bên liên quan, hay tham khảo ý kiến của các chuyên gia độc lập về vấn đề này.

Nặng gánh thuế phí: Ông chủ sợ làm ăn lớn

Lương Bằng/Vietnamnet (Cafef.vn) – DN kêu rằng gánh nặng các loại thuế, phí khiến họ bị giảm sức cạnh tranh, không thể tích tụ để lớn lên. Còn các chuyên gia đánh giá, với hệ thống chính sách thuế phí như hiện nay thì doanh nghiệp (DN) Việt Nam khó có thể lớn lên được, thậm chí có người nhận định là “không muốn lớn”.


Doanh nghiệp đang bị nhiều loại chi phí làm giảm sức cạnh tranh. Ảnh: H.Nụ

“Ăn” hết lợi nhuận của DN

Mới đây, các DN lớn trong ngành dệt may như May 10, may sông Hồng, TNG… đã phải tổ chức một cuộc họp khẩn trước bối cảnh bị giành giật đơn hàng từ Campuchia, Myanmar, Bangladesh… Tại cuộc họp, các DN đồng loạt kêu khó và đã có ý kiến tính đến việc phải thu hẹp quy mô sản xuất do mất đơn hàng về tay các đối thủ ngoại.

Chi phí ngày một tăng cao là một trong những lý do khiến các DN này đứng ngồi không yên. Những chi phí ấy, theo ông Bùi Đức Thịnh, Chủ tịch HĐQT Công ty CP may Sông Hồng là khiến DN không thể tích tụ để lớn lên.

Ông Bùi Đức Thịnh chia sẻ: Từ 2014 đến nay, lương tối thiểu tăng lên chúng tôi không xem là vấn đề vì chúng tôi trả lương cho công nhân cao hơn nhiều mức đó. Thế nhưng các chi phí đi theo nó, đặc biệt bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp… gánh nặng khủng khiếp.

Sau khi được giãn lộ trình, từ 1/1/2018 trở đi, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014, tiền đóng bảo hiểm xã hội sẽ dựa trên tổng thu nhập của người lao động thay vì chỉ căn cứ trên lương cơ bản hoặc lương tối thiểu vùng như Luật cũ. Có nghĩa Luật Bảo hiểm xã hội mới đã bổ sung thêm các khoản phụ cấp vào cách tính tiền đóng bảo hiểm xã hội, điều đó khiến chi phí của DN tăng hơn.

“Tôi tính 1 năm chúng tôi lãi 200 tỷ. Nhưng nếu đến năm 2018, cách tính bảo hiểm như thế sẽ khiến mỗi năm chi phí của chúng tôi tăng lên 285 tỷ”, ông Thịnh lo ngại.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cũng liệt kê một loạt phí được cho là bất hợp lý mà DN phải gánh chịu trong nhiều năm qua.

Chẳng hạn, quy định về kiểm tra formaldehyt đối với sản phẩm dệt may từ năm 2009 đến nay đã khiến DN phải mất chi phí hàng trăm tỉ đồng. Trong khi ấy, thực tiễn 7 năm áp dụng kiểm tra formaldehyt cho thấy chỉ có một tỷ lệ nhỏ không đáng kể lô hàng không đạt hàm lượng quy định và chưa phát hiện bất cứ trường hợp nào bị ảnh hưởng về sức khoẻ do hàm lượng formaldehyt cao quá mức quy định.

Còn với quy định về “Xác nhận khai báo hoá chất” của Bộ Công Thương làm cho các DN tốn mất 50.000 đến 150.000 ngày làm việc/năm và khoản chi phí chính thức là khoảng 10 tỷ đồng.

Không dám làm lớn?

Theo dõi đồ thị doanh thu, lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách, GS.TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài thấy rằng: Đồ thị liên quan đến doanh thu khi lên khi xuống. Còn đồ thị lợi nhuận giảm rất ghê vào 2012, 2013, hồi phục vào 2014. Nhưng đồ thị về các khoản nộp ngân sách thì tăng liên tục. Điều đó nói lên thực trạng DN Việt không thể lớn được hoặc không chịu lớn như dư luận phản ánh.

“DN tư nhân đang gặp khó khăn trong kinh doanh, lợi nhuận ít, thậm chí thua lỗ. Thế nhưng các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng thêm, do đó đại bộ phận DN, nhất là DN siêu nhỏ và nhỏ khó có thể tích lũy để tái sản xuất mở rộng”, ông Nguyễn Mại nói, “Nếu cứ tận thu, DN không có lãi thì không bao giờ lớn lên được”.

Báo cáo DN Việt Nam 2015 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố hồi tháng 6/2016 cho thấy, giai đoạn 2007-2015, số lượng DN tăng mạnh hơn so với số lượng lao động đã dẫn đến sự thu hẹp quy mô DN về lao động. Lao động bình quân trong doanh nghiệp đã giảm từ 49 lao động năm 2007 xuống chỉ còn 29 lao động năm 2015, tương ứng với quy mô của một nhỏ.

“Điều này phù hợp với thực tế là tỷ trọng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong nền kinh tế ngày càng tăng và nguy cơ Việt Nam tiếp tục thiếu các DN cỡ trung bình đã trở thành hiện hữu”, báo cáo của VCCI cảnh báo.

GS.TSKH Nguyễn Mại cho rằng: Với hệ thống chính sách thuế phí như hiện nay thì DN nhỏ và vừa Việt Nam không thể lớn lên được, thậm chí có người nhận định là “không muốn lớn”. Bởi vì ngoài các khoản thuế khá cao phải nộp cho ngân sách nhà nước còn gánh chịu phí bôi trơn, được gọi là “thuế đen”, tín dụng ngân hàng với điều kiện thế chấp và thủ tục khá phức tạp…

Vị chuyên gia này buồn bã khi nhìn sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Toyota, Honda, Samsung, LG… cũng đi lên từ những DN rất nhỏ nhờ chính sách nuôi dưỡng của Chính phủ các nước này.

“Nếu các DN không được phát triển sẽ tạo nên nạn thất nghiệp nghiêm trọng hơn nhiều. Nếu tạo điều kiện cho DN tích lũy, phát triển thì thu được lợi ích lớn hơn nhiều”, ông Mại bày tỏ.

Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu
hội nhập là gì làm sao có chuyện tận dụng được cơ hội!

Đình Phương (Cafef.vn) Theo Trí thức trẻ – Hội nhập là cuộc chơi lớn đầy cơ hội và thách thức, tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có sự chuẩn bị, dẫn đến bị động, hụt hơi trên sân chơi này.

Kết quả khảo sát PCI năm 2015 cho thấy số doanh nghiệp “không biết” hoặc “không biết gì sâu” về hiệp định TPP chiếm đến 74% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, và lần lượt là 72%, 65%, 50% đối với doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn. Tỷ lệ “biết sơ” hoặc “tương đối kỹ” về hiệp định này lần lượt là 24%, 28%, 35% và 49% đối với nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn. Tình trạng tương tự đối với các loại hiệp định khác. Duy chỉ có Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), thông tin có phần phổ biến hơn nhưng tỉ lệ vẫn còn nhiều hạn chế.

Cụ thể, với số doanh nghiệp biết và đã tìm hiểu thông tin về hiệp định AEC là 44% doanh nghiệp siêu nhỏ, 49% doanh nghiệp nhỏ, 52% doanh nghiệp vừa và 66% doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu quy mô của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Nhận thức về AEC của DNNVV của Việt Nam vẫn còn rất hạn chế

Thiếu hiểu biết về TPP và FTA với EU, thì chúng ta vẫn còn có những cơ hội bù đắp bởi các Hiệp định này đang chờ phê chuẩn trong khi đó AEC thì đã đi vào triển khai ngày một sâu rộng hơn.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) thành lập cuối năm 2015 mở ra cơ hội cho các quốc gia thành viên tiếp cận thị trường chung với 622 triệu dân, tổng GDP gần 2.600 tỷ và tổng giá trị thương mại lên đến 2.700 tỷ USD (bằng 7% tổng thương mại thế giới). ASEAN cũng được kỳ vọng sẽ thu hút được khoảng 11% tổng vốn FDI toàn cầu.

Đối với Việt Nam, ASEAN là một trong các đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và động lực quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong nhiều năm qua.

Các nước thành viên ASEAN hiện là đối tác đứng thứ ba cung cấp hàng hóa cho Việt Nam (chỉ sau Trung Quốc và Hàn Quốc) và là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư của Việt Nam (sau Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc). ASEAN cũng là nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn cho Việt Nam. Tính đến tháng 11/2015, các nước ASEAN đã đầu tư vào Việt Nam hơn 56,8 tỷ USD.

Thêm nữa, mức cam kết tự do hóa thương mại hàng hóa khá cao trong AEC là một lợi thế rất lớn về lưu chuyển hàng hóa trong nội khối ASEAN, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hạ giá thành, tăng chất lượng sản phẩm cũng như tăng tính cạnh tranh của hàng hóa.

Theo ước tính, AEC có thể giúp GDP của Việt Nam tăng trưởng thêm 14,5% và việc làm tăng thêm 10,5% đến năm 2025. Tỷ trọng việc làm của ngành công nghiệp sẽ tăng lên 23,5% vào năm 2025. Đặc biệt, gia tăng hoạt động thương mại và vận tải hàng hóa, dịch vụ sẽ giúp tạo thêm nhiều việc làm cho nền kinh tế, thậm chí đóng góp tới 41,3% tổng số lượng việc làm.

Tuy nhiên, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả các doanh nghiệp trực tiếp hoạt động thương mại hoặc sử dụng đầu vào từ nhập khẩu, còn nhận thức chưa đầy đủ về tận dụng ưu đãi trong khuôn khổ ASEAN.

Báo cáo về kinh tế quý II của CIEM đã chỉ ra khó khăn lớn nhất hiện nay là việc đáp ứng quy tắc xuất xứ, dù ASEAN cho phép áp dụng quy tắc xuất xứ gộp.

Cụ thể, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ lưu tâm đến ưu đãi thuế nhập khẩu nếu mức ưu đãi là đủ lớn. Trong khi đó, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến việc đòi hỏi chứng nhận xuất xứ – CO cho hàng nhập khẩu (kể cả khi thuế nhập khẩu ưu đãi trong ASEAN không khác so với thuế nhập khẩu tối huệ quốc); do vậy, khi xuất khẩu sang một nước ASEAN khác, ít doanh nghiệp đáp ứng được quy tắc xuất xứ gộp và không được hưởng thuế suất ưu đãi.

Đây cũng chính là một nguyên nhân khiến hàm lượng ASEAN trong xuất khẩu của Việt Nam chậm được cải thiện. Ở chiều ngược lại, vấn đề này sẽ hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam khi chào hàng xuất khẩu vào các nước ASEAN.

Những hạn chế trên còn lớn hơn trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng một chiến lược kinh doanh bài bản gắn với thị trường ASEAN. Chẳng hạn, doanh nghiệp chưa quan tâm hoặc không đủ điều kiện để tìm hiểu mạng lưới các doanh nghiệp cung ứng đầu vào ở các nước ASEAN, để có thêm hàm lượng giá trị khu vực và đáp ứng yêu cầu xuất xứ gộp khi xuất khẩu vào một nước ASEAN khác.

Trong khi đó, báo cáo của EIU (2014) cho thấy nhiều tập đoàn đa quốc gia đã hoàn thiện, thực thi chiến lược kinh doanh ở cấp vùng để đón đầu AEC (như giảm số văn phòng đại diện và cơ sở sản xuất ở ASEAN, tập trung vào cung ứng đến mọi điểm ở ASEAN, tập trung vào khách hàng ở ASEAN thay vì quốc gia thành viên ASEAN, v.v.).

Bởi sự khác nhau về tư duy giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài đó đã khiến cho Việt Nam đang chịu nhiều thiệt thòi trên sân chơi hội nhập!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s