Xuất lậu than hàng chục triệu tấn mỗi năm, ngành than sắp ngắc ngoải?

Posted: July 30, 2016 in Uncategorized
Tags:

Minh Thư (Infonet.vn) – Trong quy hoạch ngành than năm 2003 đã nói rất rõ là xuất khẩu than tối đa trong giai đoạn 2000 – 2005 là 5 triệu tấn, nhưng thực tế TKV đã xuất gần 20 triệu tấn mà không có tái đầu tư mở rộng thì chỉ 1-2 năm nữa, ngành than sẽ khó phát triển được.

� Xem thêm: Dự án Núi Pháo: Lỏng từ khâu cấp phép? + Lượng than nhập khẩu tăng mạnh.


Không chỉ vạch ra nhiều bất cập trong lĩnh vực đầu tư khai thác khoáng sản,
TS Nguyễn Thành Sơn còn cảnh báo: Chỉ 1-2 năm nữa ngành than ngắc ngoải
vì không hề có đầu tư tái sản xuất mở rộng từ khi thành lập đến bây giờ.

Phát biểu tại hội thảo “Quản lý đầu tư trong khai thác khoáng sản – Các bất cập và khuyến nghị” diễn ra ngày 29/7, TS. Nguyễn Thành Sơn, nguyên Trưởng Ban Chiến lược Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã chỉ ra hàng loạt bất cập đang tồn tại trong lĩnh vực đầu tư khai thác khoáng sản.

Bất cập lớn nhất được ông Sơn chỉ ra, đó là bất cập từ chính sách. Theo ông, bản thân chính sách ban hành không bất cập nhưng bất cập ở chỗ, ban hành rồi lại giữ bí mật, không phổ biến, không công khai, không minh bạch.

“Nếu phổ biến công khai, minh bạch thì làm gì có chuyện sau khi cấp phép khai thác 10 năm (từ năm 2005) giờ lại đi thanh kiểm tra dự án Núi Pháo”, ông Sơn nói.

Ông Sơn cũng cho rằng, công tác quy hoạch trong khai thác khoáng sản cũng rất nhiều vấn đề bất cập.

“Quy hoạch thì rất nhiều, trong đó Bộ Công thương, Bộ Xây dựng làm nhiều quy hoạch liên quan đến khoáng sản, vài chục quy hoạch nhưng chất lượng cực kỳ thấp. Tôi được biết có những quy hoạch Thủ tướng chưa phê duyệt, các bộ ngành còn đang lấy ý kiến thì đã vỡ, đã phải hủy rồi”, ông Sơn thẳng thắn.

Cụ thể hơn, ông dẫn chứng “Quy hoạch than là quy hoạch lớn nhất trong lĩnh vực khoáng sản. Nhưng, từ ngày thành lập đến nay đã hơn 20 năm rồi mà Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) vẫn hoạt động duy nhất theo quy hoạch được phê duyệt từ năm 2003, sau đấy đều là ý kiến điều chỉnh nhưng không có một phê duyệt chính thức nào cả vì chất lượng quy hoạch rất kém”.

Cũng theo chuyên gia này thì bất cập còn đến từ việc thực hiện quy hoạch. Trong quy hoạch ngành than năm 2003 đã nói rất rõ là xuất khẩu than tối đa trong giai đoạn 2000 – 2005 là 5 triệu tấn. Thế mà TKV xuất gần 20 triệu tấn và nói rằng đó là đi trước kế hoạch 5 năm… không theo quy hoạch nào cả.

“Trong chênh lệch giữa khai của Hải quan Việt Nam với khai hải quan Trung Quốc thì Việt Nam xuất sang Trung Quốc năm cao nhất lên tới 30 triệu tấn than. Xin thưa rằng số liệu của hải quan Trung Quốc là chính xác, bởi vì đơn vị nhập bên Trung Quốc được bù giá, được khuyến khích, nên họ nhập bao nhiêu khai thật bấy nhiêu. Ngược lại, ở Việt Nam đã có tình trạng ăn cắp than để xuất khẩu nên không ai khai cả”, ông Sơn “vạch mặt” bất cập.

Với một ngành đặc thù như ngành khai thác khoáng sản, ông Sơn cho rằng việc tái đầu tư sản xuất mở rộng hầu như không có, đặc biệt là ở doanh nghiệp nhà nước. Như ở TKV, từ lúc thành lập Tập đoàn thì việc tái mở rộng gần như không có.

“Trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong việc tái mở rộng, duy trì năng lực là hoàn toàn không có. Về mặt lý thuyết thì khá rõ ràng, nhưng trên thực tế chúng ta đã bỏ qua điều này. Cho nên ngành than bây giờ mới xuống dốc như vậy. Vì không hề có đầu tư tái sản xuất mở rộng từ khi thành lập Tập đoàn đến bây giờ. Chỉ 1-2 năm nữa là ngắc ngoải thôi, không tiếp tục phát triển được. Đó là một điểm cực kỳ bất cập”, chuyên gia này nhấn mạnh.

Mặt khác, ông Sơn cho hay, ở Việt Nam ngân hàng và khoáng sản đang sống ký sinh vào nhau. Ngân hàng chưa kinh doanh tiền trên hoạt động của các doanh nghiệp (DN) khoáng sản mà các DN cũng không sử dụng tiền của ngân hàng để làm đòn bẩy kinh tế, trên thực tế DN chỉ vay tiền ngân hàng để trói buộc ngân hàng vào để sau này có chết thì buộc ngân hàng phải “cứu”, do đó, ngân hàng không có khả năng để kinh doanh tiền trong khoáng sản.

“Đáng lẽ, DN khai thác khoáng sản phải được sở hữu tài nguyên thay vì phải mua lại tài nguyên của đất nước rồi thế chấp ngân hàng giống như đi mua nhà vay tiền ngân hàng nhưng ở đây các DN Việt Nam không được quyền sở hữu tài nguyên mà chỉ có quyền khai thác. Vì thế, không thể thế chấp quyền khai thác với ngân hàng được nên dựa vào ngân hàng chỉ là ký sinh mà thôi”, ông Sơn nói.

Ở khía cạnh khác, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Thái cho rằng, khai thác khoáng sản của nước ta đang bị buông lỏng quản lý. Gần đây mở rộng ra cho tư nhân khai thác nhưng việc quản lý lỏng lẻo, không hiệu quả.

“Chính phủ đang tìm kiếm các giải pháp để cải cách DNNN nhưng DNNN lại là nguồn lực chính để đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Nếu cổ phần hóa các DNNN trong lĩnh vực khoáng sản thì việc bù đắp đóng thuế vào ngân sách nhà nước là rất khó khăn”, ông Thái cho biết.

Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, tất cả tài nguyên khoáng sản là của quốc gia và phải quản lý theo luật thống nhất. Tiền thuế thu được phải thiết lập thành một quỹ để tái tạo về tài nguyên môi trường. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng đề xuất Bộ TNMT cần đánh giá lại trữ lượng khoáng sản của Việt Nam hiện nay.

Dự án Núi Pháo: Lỏng từ khâu cấp phép?

Phương Dung/Dân trí (MTG) – “Nếu Nghị quyết của Bộ Chính trị do nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười ký ban hành năm 1993 được công khai thì làm gì có chuyện dự án Núi Pháo, để bây giờ phải vào đó để thanh-kiểm tra”, một chuyên gia nói.


Dự án mỏ Núi Pháo tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Ảnh: Người Lao Động)

Phát biểu tại hội thảo “Quản lý đầu tư trong khai thác khoáng sản: Các bất cập và khuyến nghị” sáng 29.7, chuyên gia kinh tế độc lập – TS Nguyễn Thành Sơn cho biết: “Bất cập lớn nhất trong quản lý đầu tư khoáng sản hiện nay là chính sách. Có cái ban hành rồi giữ bí mật, không phổ biến công khai”.

“Nếu Nghị quyết của Bộ Chính trị do nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười ký ban hành năm 1993 được công khai thì làm gì có chuyện dự án Núi Pháo để bây giờ phải vào đó để thanh-kiểm tra”, ông Sơn nói.

Theo ông Sơn: “Những tài nguyên quý hiếm như vonfram phải được bảo vệ như thế nào, và doanh nghiệp không đủ năng lực thì không được cấp phép như thế nào đều được nêu cụ thể trong bản nghị quyết đó”.

Liên quan tới dự án Núi Pháo, sau khi nhận được thông tin người dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên phản ánh Công ty TNHH Khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo gây ô nhiễm môi trường, ngày 14.7, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Thái Nguyên về các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động của công ty này.

Tại buổi làm việc trên, Bộ TN-MT đã thống nhất với đề xuất của UBND tỉnh Thái Nguyên sẽ tiến hành ngay việc thanh tra toàn diện về tài nguyên môi trường của Công ty Núi Pháo. Cuộc thanh tra cũng có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc một số lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của công ty này. Trên cơ sở kết luận của Đoàn thanh tra, Bộ TN-MT, UBND tỉnh Thái Nguyên sẽ yêu cầu Công ty Núi Pháo thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu, xử lý, khắc phục các vấn đề môi trường do hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản của công ty gây ra.

Được biết, Bộ TN-MT cũng yêu cầu Công ty Núi Pháo đánh giá toàn diện tác động tới môi trường, cuộc sống của người dân do các hoạt động của công ty gây ra. Trên cơ sở đó sẽ phối họp với UBND tỉnh Thái Nguyên xem xét phạm vi các hộ dân tại xóm 3, xóm 4 xã Hà Thượng, huyện Đại Từ có thể phải di dời; báo cáo chi tiết về quá trình thực hiện và các nội dung thay đổi về quy mô, công suất, công nghệ khai thác và chế biến (làm rõ việc tăng chủng loại và khối lượng hóa chất sử dụng) so với báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt. Đồng thời lập kế hoạch đầu tư, lắp đặt, vận hành hệ thống quan trắc liên tục, tự động đối với nước thải theo quy định.

Được biết, Công ty Núi Pháo được thành lập năm 2004 và được cấp giấy phép khai thác năm 2005, thời điểm này đối tác nước ngoài là Tibron Canada đang nắm giữ 70% cổ phần mỏ Núi Pháo, Việt Nam chỉ có 30%. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế khiến Tibron năm 2007 đã bán lại Núi Pháo cho Quỹ đầu tư Dragon Capital, nhưng Dragon Capital cũng không thể lo liệu vốn để khai thác dự án và buộc phải tạm dừng khai thác vào năm 2008.

Năm 2010, Tập đoàn Masan tham gia vào dự án Núi Pháo với việc mua lại toàn bộ 70% cổ phần tại Công ty Núi Pháo từ tay Dragon Capital. Đến thời điểm hiện tại, Masan Group công bố đã nắm giữ 74,3% vốn tại dự án Núi Pháo.

Thương vụ Masan mua lại dự án Núi Pháo được xem là một thương vụ M&A kéo dài thời gian và phức tạp nhất từ trước đến nay với một loạt các giao dịch phát hành hối phiếu nhận nợ, quyền chọn mua, quyền chọn bán. Phải đến cuối năm 2013, thương vụ này mới chính thức hoàn tất.

Để khai thác siêu dự án này, Masan đã thành lập tới 4 pháp nhân để tiếp quản dự án Núi Pháo, gồm Masan Horizon, Masan Resources, Masan Thai Nguyen Resources và Nui Phao Mining. Trong đó, Masan Resources (MSR) là công ty nắm vai trò đầu mối và Nui Phao Mining là công ty trực tiếp được cấp giấy phép khai thác thay cho liên doanh Nuiphaovica trước đây.

Tại Đại hội cổ đông thường niên 2016, Masan Group đặt kế hoạch doanh thu là 42.000-45.000 tỉ đồng, tăng trưởng 37-47%. Trong đó, doanh thu của Masan Resource dự kiến đạt 200-230 triệu USD, tăng trưởng 57-80% nhờ sản lượng khai thác tăng. Kết thúc quý 1/2016, Masan Resources đạt lợi nhuận sau thuế 11 tỉ đồng trong quý 1/2016 so với khoản lỗ 89 tỉ đồng của cùng kỳ năm ngoái.

Tham khảo: Thanh tra toàn diện Núi Pháo: Trần Đại Quang muốn cưỡng chiếm “sân sau” tỷ đô của Nguyễn Tấn Dũng (Hoàng Trần Danlambao) – Đúng một ngày sau khi tuyên thệ nhậm chức lần 2, tân chủ tịch nước Trần Đại Quang đã mở chiến dịch thâu tóm nhắm vào các “sân sau” của gia tộc cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ngày 26/7/2016, bộ tài nguyên môi trường loan báo quyết định “thanh tra toàn diện” đối với công ty Núi Pháo. Đây được coi là một siêu dự án trị giá lên đến hàng tỷ đô-la liên quan đến bà Nguyễn Thanh Phượng – con gái ông Dũng.

Việc thanh tra được nói dựa theo đề xuất của UBND tỉnh Thái Nguyên – nơi thiếu tướng CA Trần Quốc Tỏ, em trai ông Trần Đại Quang đang giữ chức bí thư tỉnh uỷ. (…)

Lượng than nhập khẩu tăng mạnh

Tuấn Hương/Công an nhân dân (Cafef.vn) – Cục Hải quan Quảng Ninh cho biết, tổng lượng than nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến giữa tháng 7-2016 là 2,67 triệu tấn, trị giá 151 triệu USD, tăng 3,3 % về số lượng và tăng 2,1% về trị giá so cùng kỳ năm 2015.

Nguyên nhân của lượng than nhập khẩu tăng mạnh do trong năm 2016, nhiều nhà máy nhiệt điện than trên địa bàn tỉnh đi vào vận hành, dẫn đến nhu cầu đối với mặt hàng than tăng cao.

Bên cạnh đó, sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu, nên các doanh nghiệp phải nhập khẩu bổ sung từ nước ngoài (Trung Quốc, Nga, Úc…), sau đó phối trộn với than chất lượng thấp hơn trong nước để bán cho các nhà máy nhiệt điện.

Mặt khác, nguồn than cám sản xuất trong nước giá thành cao hơn giá nhập khẩu nên một số doanh nghiệp chuyển sang nhập khẩu than để cung cấp cho công nghiệp luyện kim và nhiệt điện, xi măng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s